![]() |
| Nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh cần làm rõ quy định cấp phép. Ảnh: H.Nụ |
Theo Cục Hải quan, điểm II Mục B Phụ lục I.9 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ quy định không thực hiện thủ tục hành chính “Cấp Giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh”. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 7 Nghị quyết quy định thời gian chuyển tiếp đến hết ngày 28/02/2027 đối với các văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính liên quan. Trong khi đó, Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 của Chính phủ vẫn quy định xuất bản phẩm thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép.
Sự khác biệt giữa các quy định đặt ra vướng mắc trong việc xác định nghĩa vụ giấy phép khi nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh, đặc biệt đối với các giấy phép đã được cấp và vẫn còn hiệu lực.
Để có cơ sở hướng dẫn thống nhất, Cục Hải quan đề nghị Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) làm rõ hai nội dung: Xuất bản phẩm không kinh doanh nhập khẩu có phải có giấy phép hay không; trường hợp giấy phép đã được cấp trước thời điểm áp dụng quy định không thực hiện thủ tục cấp phép theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP và vẫn còn hiệu lực, doanh nghiệp có phải nộp giấy phép cho cơ quan Hải quan khi làm thủ tục nhập khẩu hay không.
Trường hợp vẫn phải nộp giấy phép, Cục Hải quan đề nghị cung cấp danh sách giấy phép còn hiệu lực, kèm thông tin về tổ chức, cá nhân được cấp phép để phục vụ công tác kiểm tra, đối chiếu khi làm thủ tục hải quan.
Theo Điều 42 Luật Xuất bản năm 2012, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 26 Điều 1 Luật Xuất bản sửa đổi năm 2026, xuất bản phẩm không kinh doanh được nhập khẩu trong các trường hợp như phục vụ hội thảo, hội nghị quốc tế tại Việt Nam đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép; là tài sản của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nhập khẩu để sử dụng nội bộ hoặc sử dụng riêng; thuộc tiêu chuẩn hành lý của người nhập cảnh phục vụ nhu cầu cá nhân; được tặng cho qua bưu điện, dịch vụ chuyển phát trong giới hạn tiêu chuẩn miễn thuế; hoặc trao đổi, tặng cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và các thư viện công lập phục vụ lưu trữ, học tập. Các trường hợp liên quan đến quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và trường hợp khác do Chính phủ quy định cũng thuộc phạm vi điều chỉnh.
Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện thủ tục hải quan, chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất bản phẩm nhập khẩu và không được kinh doanh các xuất bản phẩm này dưới mọi hình thức. Riêng xuất bản phẩm phục vụ hội thảo, hội nghị quốc tế và xuất bản phẩm là tài sản nhập khẩu để sử dụng nội bộ hoặc sử dụng riêng phải tái xuất sau khi sử dụng; nếu không tái xuất, việc chuyển giao thực hiện theo quy định của Chính phủ. Các trường hợp tặng cho sau khi sử dụng và xuất bản phẩm gửi qua bưu điện, dịch vụ chuyển phát có giá trị vượt tiêu chuẩn miễn thuế được thực hiện theo Điều 39 của Luật.
Việc làm rõ yêu cầu giấy phép trong giai đoạn chuyển tiếp sẽ tạo cơ sở để cơ quan hải quan, cơ quan quản lý chuyên ngành và doanh nghiệp thống nhất cách áp dụng quy định đối với xuất bản phẩm nhập khẩu không kinh doanh.