![]() |
| Doanh nghiệp đóng góp ý kiến hoàn thiện dự thảo Luật Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan. Ảnh: VCCI |
Đối với lĩnh vực hải quan, một quy định mới có thể tác động đến nhiều khâu trong chuỗi xuất nhập khẩu, từ khai báo, chuẩn bị hồ sơ, xác định mã số hàng hóa, xuất xứ đến kiểm tra và thông quan. Vì vậy, xây dựng chính sách không chỉ đòi hỏi đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước mà còn phải tính đến điều kiện thực hiện của doanh nghiệp, tính đồng bộ của quy trình và khả năng triển khai trên hệ thống công nghệ thông tin.
Đánh giá chỉ rõ, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan được lấy ý kiến thông qua cổng thông tin điện tử, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các hiệp hội và nhóm doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp. Việc tham vấn theo từng nhóm vấn đề giúp cơ quan soạn thảo tập trung vào những nội dung có ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu và quá trình thực hiện thủ tục.
Ý kiến từ hiệp hội thường phản ánh những bất cập có tính phổ biến trong từng ngành hàng, trong khi doanh nghiệp trực tiếp làm thủ tục có thể chỉ ra những tình huống phát sinh cụ thể khi khai báo, nộp hồ sơ hoặc thực hiện yêu cầu kiểm tra. Đây là nguồn thông tin quan trọng để cơ quan Hải quan nhận diện những quy định có thể gây khó khăn trong thực tế, từ đó xem xét phương án điều chỉnh phù hợp.
Tại Diễn đàn “Ngành Thuế và ngành Hải quan đồng hành cùng doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số” ngày 8/10/2026, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI đặt ra yêu cầu tiếp tục cải cách chính sách, thủ tục và nâng cao hiệu quả thực thi để giảm chi phí cho doanh nghiệp. Đây cũng là vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm trong lĩnh vực hải quan, bởi chỉ một vướng mắc trong hồ sơ, cách áp dụng quy định hoặc quy trình kiểm tra cũng có thể ảnh hưởng đến tiến độ giao nhận, thông quan hàng hóa.
Thực tế, những khó khăn của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng xuất phát từ quy định chưa rõ ràng, mà đôi khi nằm ở cách thức tổ chức thực hiện hoặc sự chưa đồng bộ giữa các khâu.
Với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, điều quan trọng là quy định phải dễ hiểu, dễ thực hiện và được áp dụng thống nhất. Bởi vậy, tham vấn doanh nghiệp ngay từ khi xây dựng chính sách có ý nghĩa thiết thực: giúp cơ quan soạn thảo nhìn thấy những bất cập có thể phát sinh trong thực tế, từ đó cân nhắc phương án phù hợp trước khi ban hành.
Để có được những ý kiến sát thực tế, việc tham vấn cần tiếp cận nhiều nhóm doanh nghiệp và hiệp hội. Các hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu, Hiệp hội Logistics Việt Nam và Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam… có thể phản ánh những khó khăn khác nhau, từ thực hiện thủ tục, tổ chức vận chuyển đến đáp ứng yêu cầu quản lý đối với từng loại hình hàng hóa. Những phản ánh cụ thể này giúp cơ quan Hải quan có thêm cơ sở đánh giá tác động của chính sách, đồng thời nhận diện vấn đề cần hướng dẫn hoặc điều chỉnh.
Yêu cầu đó càng đáng chú ý trong bối cảnh nhiều quy định hải quan đang được hoàn thiện. Điển hình như Luật số 11/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 23/8/2026, có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.
Cùng với đó, các quy định về kinh doanh hàng miễn thuế, Cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN, xác định xuất xứ hàng hóa, quản lý tại Cửa khẩu thông minh… và thủ tục đối với hàng hóa chuyển phát nhanh quốc tế đều liên quan trực tiếp đến quá trình thực hiện thủ tục của doanh nghiệp.
Với mỗi chính sách mới, việc lấy ý kiến cần đi cùng đánh giá những tác động cụ thể đối với doanh nghiệp và khả năng tổ chức thực hiện của cơ quan Hải quan. Những kiến nghị được tiếp thu cần được thể hiện trong nội dung chỉnh lý; những vấn đề chưa thể giải quyết cũng cần được giải thích rõ.
Quan trọng hơn, quá trình tham vấn phải tạo được sự kết nối giữa người xây dựng chính sách với những đối tượng trực tiếp chịu tác động. Khi tiếng nói doanh nghiệp được phản ánh vào quy định và những vướng mắc được xử lý từ sớm, chính sách hải quan sẽ có điều kiện đi vào thực tế thuận lợi hơn.
Thủ tục hải quan ngày càng được thực hiện trên môi trường điện tử, nhưng với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thuận lợi không chỉ nằm ở việc có thể khai báo trực tuyến. Điều quan trọng là hồ sơ được xử lý thông suốt, dữ liệu được kết nối, yêu cầu khai báo rõ ràng và những vướng mắc phát sinh được giải quyết kịp thời.
![]() |
| Giảm chi phí, rút ngắn thủ tục hành chính thuế, hải quan tiếp sức cho doanh nghiệp. Ảnh: Thanh Hằng |
Nếu các khâu chưa đồng bộ, doanh nghiệp vẫn có thể mất thời gian bổ sung thông tin, hoàn thiện hồ sơ hoặc phối hợp xử lý dù đã thực hiện thủ tục trên hệ thống điện tử.
Tại Diễn đàn “Ngành Thuế và ngành Hải quan đồng hành cùng doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số”, ông Trần Đức Hùng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan nhấn mạnh, yêu cầu bảo đảm sự thống nhất giữa quy định pháp luật, quy trình nghiệp vụ và hệ thống công nghệ thông tin trong quá trình cải cách, hiện đại hóa hải quan. Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp với doanh nghiệp, bởi hiệu quả của chuyển đổi số không chỉ được thể hiện ở số lượng thủ tục được đưa lên môi trường điện tử mà còn ở khả năng xử lý công việc nhanh chóng, thuận tiện trong thực tế.
Đối với doanh nghiệp hoạt động tại cửa khẩu, hiệu quả của cải cách thủ tục được thể hiện rõ qua thời gian chờ xử lý hồ sơ, kiểm tra hàng hóa và hoàn tất các thủ tục để đưa hàng qua cửa khẩu.
Ông Hồ Văn Duy, Giám đốc Công ty xuất nhập khẩu ABZ (đại diện doanh nghiệp đại lý làm thủ tục hải quan) chia sẻ, khi thông tin khai báo đầy đủ, hồ sơ được xử lý kịp thời và các khâu phối hợp thông suốt, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong bố trí phương tiện, nhân lực và kế hoạch giao nhận hàng hóa. Ngược lại, nếu phát sinh sai lệch thông tin hoặc phải bổ sung hồ sơ, việc xử lý kéo dài có thể ảnh hưởng đến lịch trình vận chuyển và làm tăng chi phí lưu phương tiện, lưu hàng.
Cùng với số hóa hồ sơ, chứng từ, ngành Hải quan hướng tới tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và tự động hóa quy trình nghiệp vụ, đồng thời đẩy mạnh quản lý dựa trên mức độ tuân thủ và rủi ro.
Cách làm này tạo điều kiện tập trung nguồn lực kiểm tra vào những lô hàng, đối tượng có dấu hiệu rủi ro, thay vì áp dụng cùng một mức độ kiểm soát cho mọi trường hợp. Với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, việc nâng cao chất lượng quản lý rủi ro có ý nghĩa trong rút ngắn thời gian xử lý và chủ động hơn trong kế hoạch giao nhận hàng hóa.
Tuy nhiên, để những thay đổi này phát huy hiệu quả, phản hồi của doanh nghiệp cần được tiếp nhận ngay trong quá trình triển khai. Vướng mắc do chưa rõ cách thực hiện cần được hướng dẫn; bất cập trong quy trình hoặc hệ thống cần được rà soát, khắc phục; những vấn đề xuất phát từ quy định phải được tổng hợp để xem xét điều chỉnh. Cách xử lý cần đi vào đúng nguyên nhân, thay vì chỉ giải đáp từng trường hợp riêng lẻ.
Quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi những vướng mắc trong quá trình làm thủ tục được giải quyết, thời gian chờ xử lý hàng hóa được rút ngắn và doanh nghiệp giảm được chi phí phát sinh.
Các doanh nghiệp đều cho rằng, những phản ánh từ hoạt động xuất nhập khẩu tại cửa khẩu cũng cần được cơ quan Hải quan ghi nhận, tổng hợp để kịp thời điều chỉnh cách hướng dẫn, tổ chức thực hiện hoặc kiến nghị sửa đổi những quy định chưa phù hợp. Qua đó, việc hiện đại hóa hải quan không chỉ dừng ở số hóa quy trình mà phải tạo thuận lợi rõ ràng hơn cho doanh nghiệp trong từng khâu khai báo, kiểm tra và thông quan hàng hóa.