![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Thiệt hại thực tế quyết định mức giảm thuế
Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Trong đó, luật quy định người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế được giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại, nhưng không vượt quá số thuế phải nộp.
Đáng chú ý, quy định này không xác định một mức giảm chung cho tất cả trường hợp. Thay vào đó, mức giảm được gắn với mức độ thiệt hại thực tế của người nộp thuế. Vì vậy, bên cạnh việc xác định mình có thuộc trường hợp được xem xét hay không, hộ kinh doanh còn phải có tài liệu chứng minh cho hoàn cảnh và thiệt hại phát sinh.
Thực tế cho thấy, những rủi ro này không phải là trường hợp hiếm gặp. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 8 tháng năm 2026, cả nước xảy ra 2.001 vụ cháy, nổ, làm 64 người chết, 94 người bị thương, thiệt hại tài sản ước 618,6 tỷ đồng. Với các hộ kinh doanh, những sự cố xảy ra tại nơi kinh doanh hoặc trực tiếp ảnh hưởng đến người kinh doanh có thể kéo theo tổn thất về tài sản, thu nhập và khả năng thực hiện nghĩa vụ thuế.
Nhìn từ góc độ chính sách, TS Giang Thị Trang, Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh phân tích, chính sách miễn, giảm thuế TNCN được thiết kế cho nhiều nhóm đối tượng nhưng có ý nghĩa trực tiếp đối với hộ kinh doanh. Đặc biệt là khi người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo, làm ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế.
“Gặp biến cố không đồng nghĩa với việc người nộp thuế đương nhiên được miễn toàn bộ thuế. Điều kiện quan trọng vẫn là mức độ thiệt hại phải được thể hiện bằng hồ sơ, tài liệu theo quy định”, TS. Trang chia sẻ.
| Điều 68 Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính quy định, đối với hộ kinh doanh gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, hồ sơ gồm: văn bản đề nghị giảm thuế; bản sao văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định thời gian, địa điểm xảy ra sự kiện và tài liệu xác định giá trị thiệt hại đã gửi cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, nếu có khoản bồi thường, người nộp thuế phải có giấy tờ xác định việc bồi thường của cơ quan bảo hiểm hoặc thỏa thuận bồi thường của người gây hỏa hoạn. Các chứng từ chi liên quan trực tiếp đến việc khắc phục hậu quả cũng cần được lưu giữ. |
Từ nguyên tắc trên, thành phần hồ sơ cần xây dựng theo nguyên nhân dẫn đến khó khăn. Điều 68 Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính quy định, đối với hộ kinh doanh gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, hồ sơ gồm: văn bản đề nghị giảm thuế; bản sao văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định thời gian, địa điểm xảy ra sự kiện và tài liệu xác định giá trị thiệt hại đã gửi cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, nếu có khoản bồi thường, người nộp thuế phải có giấy tờ xác định việc bồi thường của cơ quan bảo hiểm hoặc thỏa thuận bồi thường của người gây hỏa hoạn. Các chứng từ chi liên quan trực tiếp đến việc khắc phục hậu quả cũng cần được lưu giữ.
Không dừng ở các giấy tờ về thiệt hại, hồ sơ còn gắn với tình trạng kê khai thuế. Trường hợp người nộp thuế chưa nộp hồ sơ quyết toán thuế của kỳ đề nghị giảm thuế thì phải nộp tờ khai quyết toán TNCN. Nếu hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chưa nộp tờ khai thuế năm hoặc hồ sơ quyết toán của kỳ đề nghị giảm thuế thì phải nộp tờ khai tương ứng.
Theo bà Trang, đây cũng là khâu người nộp thuế cũng cần đặc biệt lưu ý. Đối với hộ kinh doanh gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh hoặc hỏa hoạn, trước hết phải có văn bản đề nghị giảm thuế theo quy định Thông tư số 89/2026/TT-BTC. Quan trọng hơn, hồ sơ cần thể hiện được mối liên hệ giữa sự kiện xảy ra và thiệt hại thực tế.
“Hồ sơ giảm thuế phải diễn tả đầy đủ câu chuyện về thiệt hại như: chuyện gì xảy ra, xảy ra ở đâu, thiệt hại bao nhiêu, đã được bồi thường hay chưa và người nộp thuế đã phải chi những khoản nào để khắc phục”, TS. Trang nhấn mạnh.
Thiệt hại đến đâu, giảm thuế đến đó
Nếu thiên tai, dịch bệnh và hỏa hoạn tập trung vào việc xác định sự kiện và giá trị thiệt hại, thì với tai nạn, căn cứ chứng minh có thêm yếu tố thương tật. Theo ThS. Nguyễn Thị Duyên (Khoa Kinh tế, Học viện Tài chính), hộ kinh doanh gặp khó khăn do tai nạn ngoài văn bản đề nghị giảm thuế phải có văn bản xác định thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc văn bản xác nhận mức độ thương tật của cơ quan y tế.
Đồng thời, nếu có khoản bồi thường của cơ quan bảo hiểm hoặc người gây tai nạn, người nộp thuế cần có giấy tờ xác định khoản bồi thường. Các chứng từ chi liên quan trực tiếp đến việc khắc phục tai nạn cũng thuộc hồ sơ.
Trong khi đó, với trường hợp bệnh hiểm nghèo, hồ sơ chuyển trọng tâm sang căn cứ y tế. Người nộp thuế cần có bản sao hồ sơ bệnh án, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc sổ khám bệnh theo quy định; cùng với đó là chứng từ chứng minh chi phí khám, chữa bệnh do cơ quan y tế cấp hoặc hóa đơn mua thuốc chữa bệnh kèm đơn thuốc của bác sĩ.
Như vậy, theo chuyên gia, người nộp thuế cần phân định, nguyên nhân gây khó khăn khác nhau thì căn cứ chứng minh cũng khác nhau.
Từ sự khác biệt về hồ sơ, một nguyên tắc khác cũng cần được làm rõ: giảm thuế không đồng nghĩa với miễn toàn bộ thuế. Theo ThS. Nguyễn Thị Duyên, mức giảm TNCN được xác định tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp.
“Mức giảm thuế TNCN được xác định tương ứng với mức độ thiệt hại, nhưng không vượt quá số thuế phải nộp”, bà Duyên nhận định.
Do vậy, tài liệu chứng minh thiệt hại giữ vai trò quan trọng trong quá trình xem xét giảm thuế. Các giấy tờ về sự kiện, giá trị thiệt hại, khoản bồi thường và chi phí khắc phục người nộp thuế cần lưu giữ đầy đủ và thống nhất.
Từ thực tế này, hộ kinh doanh trước hết xác định có phát sinh nghĩa vụ TNCN hay không? Sau đó, rà soát sự kiện xảy ra có thuộc trường hợp được xem xét giảm thuế hay không? Nếu thuộc diện này, hồ sơ nên được chuẩn bị theo đúng nguyên nhân gây thiệt hại.
“Việc lưu giữ hồ sơ cần được chú trọng ngay khi phát sinh sự kiện. Khi căn cứ về sự kiện, thiệt hại, bồi thường và chi phí được lưu giữ đầy đủ, người nộp thuế có cơ sở để thực hiện”, bà Duyên khuyến nghị.