![]() |
| Đối với các cơ sở giáo dục hoạt động không vì lợi nhuận, chính sách thuế phù hợp sẽ giúp củng cố niềm tin cho các quyết định đầu tư dài hạn, toàn diện và mạnh mẽ hơn. Ảnh: Hương Quỳnh. |
Đề xuất miễn thuế TNDN đối với cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận được đặt trong định hướng phát triển giáo dục và đào tạo tại Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025.
Theo tính toán của Chính phủ, chính sách này dự kiến làm giảm thu ngân sách nhà nước khoảng 2.200 tỷ đồng mỗi năm. Nguồn lực được giữ lại được kỳ vọng giúp các cơ sở giáo dục duy trì hoạt động, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo và đa dạng hóa dịch vụ giáo dục.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, Phó Tổng giám đốc RMIT Việt Nam Lê Minh Khánh cho rằng, việc sử dụng chính sách thuế để khuyến khích đầu tư cho giáo dục không phải là định hướng mới. Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã có các chính sách xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, và các chính sách này đã phát huy tác dụng tích cực trong việc thu hút nguồn lực xã hội, giảm áp lực cho khu vực công lập và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý trong đề xuất của Chính phủ lần này đó là chính sách đã đi thêm một bước xa hơn khi đề cập rõ hơn đến các cơ sở giáo dục hoạt động không vì lợi nhuận.
“Đây là bước tiến quan trọng, vì chính sách không chỉ khuyến khích đầu tư vào giáo dục nói chung, mà còn hướng đến việc thu hút những nhà đầu tư và tổ chức giáo dục đến Việt Nam với mục tiêu đóng góp dài hạn cho giáo dục, cho người học và cho xã hội”, ông Lê Minh Khánh chia sẻ.
Mặt khác, cũng theo ông Lê Minh Khánh, đối với các cơ sở giáo dục hoạt động không vì lợi nhuận, chính sách thuế phù hợp sẽ giúp củng cố niềm tin cho các quyết định đầu tư dài hạn, toàn diện và mạnh mẽ hơn.
Khi nguồn lực được giữ lại và tái đầu tư vào giáo dục, người học và xã hội sẽ được hưởng lợi thông qua chất lượng đào tạo tốt hơn, cơ sở vật chất hiện đại hơn, nhiều học bổng hơn, năng lực nghiên cứu mạnh hơn và các hoạt động hỗ trợ sinh viên toàn diện hơn.
“Đề xuất đã tạo sự giao thoa tích cực giữa chính sách thuế của Việt Nam và mục tiêu dài hạn của những tổ chức giáo dục như RMIT khi đầu tư tại Việt Nam: Xây dựng cầu nối giữa Việt Nam và thế giới, đưa tri thức và chuẩn mực giáo dục quốc tế đến gần hơn với người học Việt Nam. Đồng thời đóng góp vào nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế”, ông Lê Minh Khánh khẳng định.
Ở góc độ dài hạn, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi đánh giá: “Chấp nhận giảm một phần nguồn thu ngân sách trong ngắn hạn để khuyến khích xã hội đầu tư cho giáo dục sẽ tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn trong dài hạn thông qua năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh quốc gia”.
Cơ sở của đề xuất còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm chính sách thuế phù hợp với hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo Chính phủ, pháp luật hiện hành mới chỉ quy định miễn thuế TNDN áp dụng đối với cơ sở giáo dục đại học công lập, chưa bao quát đầy đủ các cấp học và loại hình cơ sở giáo dục.
Trong khi đó, hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
Việc mở rộng diện miễn thuế được đặt ra nhằm thể hiện đầy đủ hơn chủ trương tại Nghị quyết số 71-NQ/TW về việc không áp dụng thuế TNDN đối với cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận.
Một nội dung khác được Chính phủ đề cập là tiêu chí xác định cơ sở giáo dục hoạt động không vì lợi nhuận. Do tiêu chí này còn được sử dụng trong nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước và không chỉ áp dụng riêng trong lĩnh vực giáo dục, Chính phủ đề xuất không quy định riêng tiêu chí tại dự thảo Luật thuế TNDN mà dẫn chiếu theo pháp luật chuyên ngành.
Tại dự thảo luật trình Quốc hội, Chính phủ đã bổ sung quy định: “Việc xác định cơ sở giáo dục công lập; cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận thực hiện theo quy định của pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học”.
Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật về thuế và pháp luật chuyên ngành. Vì vậy, cùng với việc mở rộng diện miễn thuế, việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật chuyên ngành sẽ là căn cứ để xác định đối tượng hưởng chính sách, đồng thời tạo cơ sở cho công tác quản lý, giám sát trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh chính sách dành cho cơ sở giáo dục, Chính phủ còn đề xuất miễn thuế TNDN đối với phần thu nhập thuộc diện ưu đãi của doanh nghiệp cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh cung cấp suất ăn của cá nhân cư trú thuộc diện áp dụng.
Đề xuất này thể hiện sự chia sẻ của Nhà nước với các đơn vị cung cấp dịch vụ thiết yếu, thông qua việc giảm nghĩa vụ thuế và tạo thêm nguồn lực để duy trì, nâng cao chất lượng hoạt động.
Hiện nay, nhiều cơ sở cung cấp suất ăn hiện có quy mô nhỏ, nguồn vốn đầu tư hạn chế, chưa đủ điều kiện đầu tư dây chuyền cung ứng hiện đại.
Trong khi đó, suất ăn tại trường học và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải đáp ứng yêu cầu về giá cả, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Việc thiếu nguồn lực có thể ảnh hưởng đến khả năng đầu tư thiết bị, cải thiện quy trình cung ứng và kiểm soát chất lượng bữa ăn.
Từ thực tế này, ưu đãi thuế được kỳ vọng giúp doanh nghiệp giảm chi phí thuế, tích lũy vốn và mở rộng hoạt động. Khi có thêm nguồn lực, các đơn vị có điều kiện đầu tư tốt hơn cho việc kiểm soát an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Về phía người sử dụng, chính sách có thể góp phần giảm giá thành bữa ăn, qua đó giảm gánh nặng chi phí cho học sinh, người bệnh và người nhà chăm sóc bệnh nhân.
Thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW, Nghị quyết 72-NQ/TW để tạo điều kiện để hỗ trợ học sinh, sinh viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân giảm bớt gánh nặng, Bộ Tài chính được giao nghiên cứu phương án miễn thuế TNDN đối với thu nhập từ hoạt động cung cấp suất ăn cho trường học, bệnh viện.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, chính sách hỗ trợ cần gắn với những yêu cầu cụ thể về chất lượng bữa ăn. Điều này cho thấy mục tiêu của đề xuất không chỉ là giảm nghĩa vụ thuế cho đơn vị cung cấp suất ăn, mà còn hướng tới cải thiện điều kiện cung ứng dịch vụ và lợi ích của người học, người bệnh.
Đề xuất miễn thuế đồng thời hướng tới hạn chế sự khác biệt về chính sách giữa doanh nghiệp và cá nhân cư trú cùng cung cấp dịch vụ suất ăn. Tuy nhiên, để chính sách hỗ trợ đúng đối tượng và không tạo kẽ hở trong thực hiện, cần xác định rõ phần thu nhập được hưởng ưu đãi, nhất là với những cơ sở vừa cung cấp suất ăn cho trường học, bệnh viện, vừa kinh doanh dịch vụ ăn uống bên ngoài.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, việc xác định giá thành và lợi nhuận của từng hoạt động có thể thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc kế toán, bao gồm tính chi phí nguyên liệu theo số lượng suất ăn và phân bổ chi phí chung, chi phí cố định. Cách thức xác định thu nhập được miễn thuế cần bảo đảm khả thi, thuận lợi cho doanh nghiệp kê khai và cơ quan quản lý kiểm tra.
“Nguyên tắc tính thuế là phải đơn giản và hiệu quả. Nếu chính sách có chi phí cao thì không đáp ứng yêu cầu của thuế là phải hiệu quả”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Theo đó, phần thu nhập được miễn thuế có thể được xác định theo tỷ trọng doanh thu của từng hoạt động, trên cơ sở kê khai của đơn vị. Chẳng hạn, với doanh nghiệp vừa cung cấp suất ăn cho trường học, bệnh viện vừa bán thức ăn ra bên ngoài, việc phân định phần thu nhập tương ứng với từng hoạt động sẽ là căn cứ xác định phạm vi ưu đãi, thay vì áp dụng miễn thuế cho toàn bộ hoạt động kinh doanh.
Như vậy, thông qua đề xuất miễn thuế, Nhà nước hướng tới chia sẻ một phần chi phí với doanh nghiệp và cá nhân cung cấp suất ăn, đồng thời khuyến khích đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ.