![]() |
| Chuẩn hóa chứng từ, tăng cường phối hợp trong xử lý giao dịch nộp thuế. Ảnh: H.Nụ |
Chuẩn hóa chứng từ, dữ liệu thanh toán
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 184/2015/TT-BTC và Thông tư số 51/2025/TT-BTC. Việc xây dựng Thông tư nhằm thực hiện khoản 2 và khoản 4 Điều 14 Luật số 108/2025/QH15 về phương thức nộp tiền thuế, các khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt và việc tra soát, xử lý chứng từ nộp tiền.
Theo cơ quan soạn thảo, dự thảo điều chỉnh ba nhóm nội dung chính gồm: thu, nộp các khoản phải nộp đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh; tra soát, xử lý chứng từ nộp tiền; bảo lãnh các khoản phải nộp thuộc ngân sách nhà nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Về phương thức nộp tiền, người nộp thuế có thể thực hiện qua Cổng thông tin điện tử hải quan, Cổng Dịch vụ công quốc gia, các kênh thanh toán điện tử của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán hoặc tại quầy giao dịch của tổ chức có kết nối theo quy định.
Đối với giao dịch qua Cổng thanh toán điện tử hải quan, người nộp thuế tra cứu các khoản phải nộp, lựa chọn khoản cần thanh toán, kiểm tra thông tin chứng từ, chọn tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc Kho bạc Nhà nước, sau đó ký số yêu cầu trích tiền. Trường hợp các khoản phải nộp vào những tài khoản khác nhau, người nộp thuế phải lập chứng từ tương ứng với từng tài khoản.
Quy trình này gắn việc lập chứng từ với từng khoản phải nộp, đồng thời xác định rõ các bước người nộp thuế cần thực hiện trước khi yêu cầu thanh toán. Việc kiểm tra thông tin trên chứng từ trước khi ký số cũng là khâu quan trọng nhằm hạn chế sai sót trong quá trình chuyển tiền và xử lý dữ liệu.
Dự thảo quy định chứng từ phải có thông tin phục vụ việc xác định nghĩa vụ thuế. Trường hợp được cơ quan Hải quan cung cấp mã định danh khoản phải nộp, người nộp thuế sử dụng mã này trong giao dịch. Số tham chiếu giao dịch do hệ thống thanh toán tự tạo được dùng để nhận diện giao dịch khi truyền nhận thông tin giữa các hệ thống.
Theo cơ quan soạn thảo, các thông tin này giúp xác định khoản tiền được nộp tương ứng với nghĩa vụ nào, tạo cơ sở để đối chiếu dữ liệu thanh toán với thông tin quản lý thuế. Đối với doanh nghiệp có nhiều khoản phải nộp, việc ghi nhận đầy đủ thông tin trên chứng từ có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình theo dõi và xác nhận kết quả nộp tiền.
Dự thảo cũng quy định chứng từ điện tử đáp ứng điều kiện theo quy định có giá trị như chứng từ giấy và được lưu trữ theo pháp luật về giao dịch điện tử. Như vậy, chứng từ điện tử không chỉ được sử dụng trong quá trình thanh toán mà còn là căn cứ phục vụ việc tra cứu, đối chiếu và xử lý khi phát sinh vướng mắc.
Đại diện Cục Hải quan nhấn mạnh, việc hoàn thiện quy định về thu, nộp thuế điện tử cần bảo đảm sự thống nhất giữa quy trình lập chứng từ, xử lý thanh toán và trao đổi thông tin giữa các bên. Việc quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, cùng với yêu cầu về dữ liệu và xử lý giao dịch, sẽ góp phần tạo thuận lợi cho người nộp thuế và nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước.
Tăng cường phối hợp xử lý giao dịch
Bên cạnh quy trình lập chứng từ, dự thảo quy định cụ thể thời gian kiểm tra điều kiện trích nợ tài khoản của tổ chức phối hợp thu. Theo đó, chậm nhất 5 phút kể từ khi nhận được thông tin chứng từ do hệ thống chuyển đến, tổ chức phối hợp thu phải kiểm tra điều kiện trích nợ.
![]() |
| Hoạt động thu, nộp thuế điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Ảnh: H.Nụ |
Nếu đủ điều kiện, tổ chức phối hợp thu thực hiện trích tiền và gửi thông báo nộp thuế điện tử thành công kèm chứng từ được ký điện tử. Trường hợp không đủ điều kiện, hệ thống phản hồi giao dịch không thành công.
Quy định về thời gian xử lý giúp xác định rõ trách nhiệm của tổ chức phối hợp thu trong khâu tiếp nhận và thực hiện yêu cầu thanh toán. Thông tin phản hồi cũng giúp người nộp thuế nhận biết kết quả giao dịch để kiểm tra, xử lý khi việc nộp tiền chưa hoàn tất.
Tuy nhiên, để xác nhận đầy đủ việc thực hiện nghĩa vụ thuế, thông tin thanh toán còn phải được truyền nhận và đối chiếu với dữ liệu quản lý của cơ quan Hải quan. Đây là lý do dự thảo đồng thời quy định việc tra soát, xử lý chứng từ nộp tiền, nhằm xử lý các trường hợp cần kiểm tra, xác minh thông tin giao dịch.
Quá trình thu, nộp thuế điện tử có sự tham gia của nhiều bên, từ người nộp thuế, cơ quan Hải quan, Kho bạc Nhà nước đến ngân hàng và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán. Mỗi bên thực hiện một công đoạn, do đó thông tin cần được trao đổi thống nhất để xác định chính xác khoản phải nộp và kết quả thanh toán.
Theo cơ quan soạn thảo, việc mở rộng các kênh thanh toán tạo thêm lựa chọn cho người nộp thuế, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về sự thống nhất trong lập chứng từ, truyền nhận dữ liệu và phản hồi kết quả. Khi giao dịch được thực hiện qua các hệ thống khác nhau, thông tin định danh và số tham chiếu giao dịch là cơ sở để nhận diện, đối chiếu và xử lý các khoản tiền đã nộp.
Ngoài thu, nộp thuế và xử lý chứng từ, dự thảo còn quy định về bảo lãnh tiền thuế phải nộp, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Các nội dung này cùng nằm trong phạm vi điều chỉnh của thông tư dự kiến thay thế hai văn bản hiện hành.