![]() |
| Dữ liệu trong thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu. Ảnh: Cục Hải quan |
Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định việc thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh theo Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN; đồng thời quy định việc quản lý, vận hành, trao đổi, chia sẻ dữ liệu thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/10/2026 và thay thế Nghị định số 85/2019/NĐ-CP.
Trong tổng thể các quy định, chuẩn hóa dữ liệu là nội dung có tính nền tảng bởi Cổng thông tin một cửa quốc gia không chỉ tiếp nhận hồ sơ mà còn chuyển thông tin đến các hệ thống xử lý chuyên ngành, tiếp nhận kết quả và phản hồi cho người khai. Vì vậy, dữ liệu đầu vào phải được xác định thống nhất về cấu trúc và nội dung để có thể sử dụng trong toàn bộ quá trình xử lý.
Nghị định số 336/2026/NĐ-CP cụ thể hóa yêu cầu này thông qua các phụ lục về chỉ tiêu thông tin. Phụ lục I quy định thông tin đăng ký đối với người sử dụng là người khai; Phụ lục II quy định thông tin đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc các bộ, ngành; Phụ lục III quy định bản khai chung đối với thủ tục thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia; Phụ lục IV quy định thông tin về kết quả xử lý.
Cấu trúc dữ liệu được thiết kế theo từng nhóm thông tin. Đối với hồ sơ, Nghị định xác định các trường như số hồ sơ, mã thủ tục, tên thủ tục, bộ, ngành xử lý, cơ quan xử lý, ngày khai báo và loại hồ sơ. Thông tin về tổ chức, cá nhân cũng được xác định theo các nhóm dữ liệu cụ thể, gồm mã định danh, tên tổ chức, người đại diện, địa chỉ, điện thoại và thư điện tử.
Đối với hàng hóa, các nhóm thông tin bao gồm mã HS, tên hàng, số lượng, trọng lượng, trị giá, xuất xứ, nhà sản xuất, nước sản xuất, mục đích sử dụng và các thông tin khác tùy từng thủ tục. Thông tin về phương tiện vận tải cũng được chuẩn hóa theo các nhóm liên quan đến phương thức vận tải, phương tiện, cửa khẩu, cảng, vận đơn, container và hành trình.
Điểm quan trọng của việc chuẩn hóa dữ liệu là thông tin được xác định ngay từ đầu theo các nhóm chỉ tiêu thống nhất. Khi dữ liệu có cấu trúc rõ ràng, việc tiếp nhận, chuyển giao và xử lý giữa Cổng thông tin với các hệ thống xử lý chuyên ngành có cơ sở thực hiện thống nhất.
Theo Điều 13 Nghị định số 336/2026/NĐ-CP, người khai và cơ quan xử lý gửi thông tin về thủ tục hành chính đến Cổng thông tin một cửa quốc gia. Cổng thông tin tiếp nhận, cấp mã hồ sơ và chuyển thông tin đến cơ quan xử lý. Sau khi thực hiện nghiệp vụ theo thẩm quyền, cơ quan xử lý gửi trạng thái và kết quả về Cổng thông tin để phản hồi cho người khai và các hệ thống liên quan.
![]() |
| Các cơ quan cùng tham gia một thủ tục có thể sử dụng và trao đổi dữ liệu trên cùng một nền tảng. Ảnh: Cục Hải quan |
Như vậy, dữ liệu đầu vào và kết quả xử lý được đặt trong cùng một chuỗi. Thông tin do người khai cung cấp không chỉ phục vụ khâu tiếp nhận mà còn được sử dụng trong quá trình xử lý và gắn với kết quả cuối cùng.
Điều 19 Nghị định số 336/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định Cổng thông tin một cửa quốc gia tiếp nhận thông tin khai điện tử 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần, đồng thời chuyển thông tin khai điện tử đến các hệ thống xử lý chuyên ngành và phản hồi trạng thái xử lý đến người khai. Thời hạn giải quyết hồ sơ vẫn thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.
Điều 20 quy định cơ chế trao đổi thông tin giữa Cổng thông tin với hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, hệ thống xử lý chuyên ngành và Cổng dịch vụ công quốc gia. Cổng thông tin chuyển chứng từ điện tử, thông tin liên quan đến cơ quan xử lý, đồng thời tiếp nhận tình trạng và kết quả để phản hồi cho người khai.
Ở đầu ra, Phụ lục IV tiếp tục chuẩn hóa thông tin kết quả xử lý, trong đó có số kết quả, tên kết quả, trạng thái, ngày cấp, ngày hiệu lực, ngày hết hiệu lực, hồ sơ tham chiếu, cơ quan xử lý và thông tin tổ chức, cá nhân được cấp kết quả.
Việc chuẩn hóa không chỉ dừng ở dữ liệu khai ban đầu mà còn bao gồm cấu trúc và nhận diện thống nhất kết quả xử lý, bảo đảm khả năng phản hồi, tra cứu và tái sử dụng trong các bước nghiệp vụ liên quan.
Cùng với yêu cầu đối với hệ thống, Nghị định số 336/2026/NĐ-CP quy định người khai chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung đã khai, chứng từ đã nộp, xuất trình và sự thống nhất giữa các chứng từ.
Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm rà soát thủ tục thuộc phạm vi quản lý để thực hiện trên Cổng thông tin, xây dựng hoặc điều chỉnh hệ thống xử lý chuyên ngành, xây dựng, định dạng biểu mẫu chứng từ điện tử và tiếp nhận, sử dụng thông tin về số định danh hàng hóa phục vụ quản lý nhà nước.
Từ các quy định này, có thể thấy Nghị định số 336/2026/NĐ-CP không chỉ quy định một phương thức tiếp nhận hồ sơ điện tử mà còn xác định cấu trúc dữ liệu cho cả quá trình xử lý. Đây là cơ sở để các cơ quan cùng tham gia một thủ tục có thể sử dụng và trao đổi dữ liệu trên cùng một nền tảng, trong khi trách nhiệm đối với nội dung thông tin vẫn được xác định theo từng chủ thể.