Thứ ba 01/09/2026 12:36
Thời tiết: Hà Nội 36°C
Đà Nẵng 27°C
Cà Mau 32°C
Hải Phòng 33°C
TP Hồ Chí Minh 32°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách
aa
PGS.TS. Lý Phương Duyên:

Ba cơ chế trong chính sách thuế giúp huy động nguồn lực cho tăng trưởng

Thúy Nga (thực hiện)
Theo PGS.TS. Lý Phương Duyên, Khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính), chính sách thuế không chỉ huy động nguồn thu mà còn góp phần mở rộng cơ sở thuế, nuôi dưỡng năng lực tạo nguồn thu và giảm chi phí tuân thủ.
PGS.TS Lý Phương Duyên, Khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính). Ảnh: internet.
PGS.TS. Lý Phương Duyên, Khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính). Ảnh: internet.

Phóng viên: Trong nghiên cứu của mình, bà đề cập đến khung ba cơ chế của chính sách thuế trong huy động nguồn lực cho tăng trưởng. Bà có thể làm rõ cách tiếp cận này, đặc biệt trong bối cảnh khu vực kinh tế tư nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng?

PGS.TS. Lý Phương Duyên: Khu vực kinh tế tư nhân vừa trực tiếp tạo ra sản lượng, việc làm, thu nhập và đầu tư, vừa tạo ra một phần quan trọng của cơ sở thuế. Theo định hướng đến năm 2030, khu vực này được kỳ vọng tăng trưởng 10-12%/năm, đóng góp 55-58% GDP và 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước.

Vì vậy, cách thiết kế chính sách thuế đối với doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh có tác động không chỉ đến số thu ngân sách mà còn đến quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới và chính thức hóa hoạt động kinh doanh.

Theo tôi, chính sách thuế có thể được nhìn qua ba cơ chế.

Thứ nhất: Huy động nguồn thu. Đây là chức năng truyền thống của hệ thống thuế. Tuy nhiên, huy động nguồn thu không nhất thiết đồng nghĩa với tăng thuế suất. Một hệ thống thuế có thể tăng khả năng huy động nguồn thu thông qua mở rộng và bảo vệ cơ sở thuế, hạn chế thất thu, nâng cao tính tuân thủ và giảm khoảng cách giữa nghĩa vụ theo luật và số thu thực tế.

Thứ hai: Nuôi dưỡng cơ sở thuế thông qua hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Thuế tác động đến lợi tức và dòng tiền sau thuế của doanh nghiệp, từ đó có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và năng lực tạo thu nhập. Vì vậy, cần nhìn cả tác động của chính sách thuế đối với khả năng hình thành và mở rộng cơ sở thuế trong tương lai.

Thứ ba: Giảm chi phí của hệ thống thuế, bao gồm chi phí tuân thủ của người nộp thuế và chi phí quản lý của cơ quan Thuế. Đơn giản hóa thủ tục, tự động hóa, tích hợp dữ liệu và quản lý dựa trên rủi ro có thể giúp giải phóng nguồn lực đang bị sử dụng cho những chi phí không cần thiết.

Ba cơ chế này có quan hệ tương hỗ nhưng cũng tạo ra những đánh đổi. Ưu đãi thuế có thể tạo thêm nguồn lực cho đầu tư nhưng đồng thời làm giảm số thu ngân sách hiện tại; chính thức hóa hoạt động kinh doanh có thể tăng minh bạch và mở rộng cơ sở thuế nhưng cũng làm phát sinh chi phí tuân thủ; tăng cường kiểm soát có thể bảo vệ cơ sở thuế nhưng nếu không phân biệt theo mức độ rủi ro thì lại tạo thêm gánh nặng cho người nộp thuế.

Do đó, vấn đề là phối hợp các cơ chế này để đạt mục tiêu huy động và phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng.

Phóng viên: Theo quan điểm của bà, việc đánh giá hiệu quả của các chính sách miễn, giảm, ưu đãi thuế không nên chỉ nhìn vào số thu ngân sách giảm đi, vậy đâu là tiêu chí để xác định một ưu đãi thuế thực sự góp phần tạo thêm động lực tăng trưởng và mở rộng cơ sở thuế?

PGS.TS. Lý Phương Duyên: Ưu đãi thuế có thể được sử dụng để khuyến khích nghiên cứu và phát triển, đổi mới hoặc đầu tư vào những lĩnh vực có tác động lan tỏa.

Tuy nhiên, thực hiện các hình thức ưu đãi thuế đồng nghĩa với việc giảm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước hay còn gọi là hình thức chi tiêu thuế.

Do đó, hiệu quả không thể đánh giá bằng số doanh nghiệp được hưởng hay số tiền thuế được giảm, mà phải dựa trên mức độ hoạt động kinh tế tăng thêm so với trường hợp không có ưu đãi.

OECD cũng đề xuất quản trị ưu đãi thuế theo toàn bộ vòng đời chính sách, từ xác định mục tiêu, thiết kế, triển khai đến giám sát và đánh giá. Theo đó, hiệu quả của ưu đãi cần được xem xét trên một số tiêu chí quan trọng.

Trước hết là tính bổ sung phản ánh mức độ mà ưu đãi thực sự tạo ra đầu tư, đổi mới hoặc hoạt động kinh tế tăng thêm so với trường hợp không có ưu đãi.

Chi phí tài khóa là phần thu ngân sách Nhà nước bị giảm do áp dụng miễn, giảm hoặc ưu đãi thuế cũng là một tiêu chí cần được tính đến.

Ngoài ra, cần đánh giá các thay đổi hành vi hoặc phân bổ nguồn lực không mong muốn do chính sách tạo ra, chẳng hạn doanh nghiệp điều chỉnh quy mô hoặc cơ cấu hoạt động chủ yếu để đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi.

Công chức thuế cơ sở 8 tỉnh Phú Thọ tập trung cao độ, hỗ trợ tối đa để hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện tốt chính sách, pháp luật thuế. Ảnh: Văn Học.
Công chức Thuế cơ sở 8 tỉnh Phú Thọ tập trung cao độ, hỗ trợ tối đa để hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện tốt pháp luật thuế. Ảnh: Văn Học.

Cuối cùng các ưu đãi cần có cơ chế rà soát định kỳ và điều khoản kết thúc, nhằm bảo đảm chính sách được điều chỉnh hoặc chấm dứt khi không còn đạt mục tiêu hoặc chi phí vượt quá lợi ích.

Theo cách tiếp cận này, “nuôi dưỡng nguồn thu” cần gắn với quản lý chi tiêu thuế, tức đánh giá liệu phần nguồn thu ngân sách bị từ bỏ có tạo ra lợi ích kinh tế - xã hội tăng thêm đủ lớn trong trung và dài hạn hay không.

Phóng viên: Chính sách thuế hiện có sự phân hóa theo quy mô doanh nghiệp, vậy theo bà, việc áp dụng các ngưỡng doanh thu và mức thuế khác nhau có tác động ra sao đến động lực mở rộng quy mô của doanh nghiệp?

PGS.TS. Lý Phương Duyên: Đây là một trong những đánh đổi cần được tính đến khi thiết kế chính sách thuế.

Việc áp dụng các mức thuế suất thấp hơn đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ giúp giảm gánh nặng tương đối cho nhóm này, nhất là trong giai đoạn khả năng tích lũy vốn còn hạn chế. Tuy nhiên, khi nghĩa vụ thuế thay đổi theo các ngưỡng doanh thu, chính sách có thể làm thay đổi lợi ích cận biên của việc vượt ngưỡng.

Về nguyên tắc, hệ thống thuế nên hạn chế tác động đến quyết định về hình thức và tăng trưởng của doanh nghiệp. Một số nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy ưu đãi thuế dựa trên quy mô, nếu thiết kế không phù hợp, có thể tác động đến năng suất và tăng trưởng.

Tuy nhiên, đối với Việt Nam hiện chưa có đủ bằng chứng để khẳng định các ngưỡng doanh thu hiện hành đã tạo ra một “bẫy quy mô nhỏ”, tức doanh nghiệp cố tình duy trì doanh thu dưới ngưỡng để được hưởng mức thuế thấp hơn. Đây mới là một giả thuyết chính sách cần được kiểm chứng bằng dữ liệu thực tế.

Có thể sử dụng dữ liệu phân bố doanh thu quanh các ngưỡng để kiểm tra xem có hiện tượng tập trung bất thường hoặc những phản ứng hành vi khác hay không. Điều quan trọng là mục tiêu của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ phải là giúp doanh nghiệp có khả năng lớn lên, chứ không tạo động cơ duy trì quy mô nhỏ.

Theo hướng đó, cần tiếp tục nghiên cứu cách thiết kế nghĩa vụ thuế phù hợp hơn với quá trình phát triển của doanh nghiệp, thay vì chỉ nhìn vào quy mô tại một thời điểm.

Phóng viên: Trong quá trình mở rộng quản lý dựa trên doanh thu, hóa đơn và dữ liệu, việc chính thức hóa hoạt động kinh doanh cũng đặt ra yêu cầu về chi phí tuân thủ, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh. Theo bà, cần nhìn nhận vấn đề này như thế nào để vừa mở rộng cơ sở thuế, vừa kiểm soát, giảm thiểu chi phí tuân thủ cho người nộp thuế?

PGS.TS. Lý Phương Duyên: Mở rộng cơ sở thuế và chính thức hóa hoạt động kinh doanh là cần thiết để nâng cao tính minh bạch, công bằng và khả năng quản lý rủi ro.

Khi chấm dứt phương pháp thuế khoán và mở rộng quản lý dựa trên doanh thu, hóa đơn và dữ liệu, yêu cầu về ghi chép, hóa đơn, kê khai và công nghệ có thể làm phát sinh chi phí chuyển đổi đối với các chủ thể nhỏ. Mở rộng cơ sở thuế phải đi cùng nguyên tắc tương xứng: nghĩa vụ và mức độ phức tạp cần phù hợp với quy mô, đặc điểm giao dịch và mức độ rủi ro của người nộp thuế.

Vì vậy, đơn giản hóa thủ tục, tự động hóa, tích hợp dữ liệu và quản lý dựa trên rủi ro cần được xem là những công cụ xuyên suốt của hệ thống thuế.

Khi được triển khai tốt, quản lý dựa trên rủi ro có thể giúp cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào nhóm có rủi ro cao, đồng thời giảm kiểm tra và chi phí đối với người nộp thuế tuân thủ tốt.

Phóng viên: Xin cảm ơn bà!

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hải quan là cơ quan xác định cuối cùng mã HS để tính thuế

Hải quan là cơ quan xác định cuối cùng mã HS để tính thuế

Cục Hải quan khẳng định cơ quan Hải quan có trách nhiệm phân loại, xác định mã số hàng hóa (mã HS) theo Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam để làm cơ sở tính thuế; trường hợp có sự không thống nhất về mã số, cơ quan Hải quan chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan chuyên ngành để xác định theo quy định.
Đưa hàng về bảo quản không phải nộp ngay chứng từ địa điểm

Đưa hàng về bảo quản không phải nộp ngay chứng từ địa điểm

Từ vướng mắc của Công ty TNHH Thang máy Mitsubishi Việt Nam về chứng từ chứng minh địa điểm khi đưa thiết bị về bảo quản, Cục Hải quan hướng dẫn cụ thể hồ sơ tại thời điểm đề nghị và việc kiểm tra địa điểm sau đó.
Luật Hải quan mở thêm dư địa cho chuỗi logistics

Luật Hải quan mở thêm dư địa cho chuỗi logistics

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 mở rộng các địa điểm được tổ chức kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa và bổ sung quy định đối với hoạt động quá cảnh, trung chuyển, tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp tổ chức chuỗi logistics linh hoạt hơn.
Hải quan thống nhất phân loại hàng hóa, trị giá và kiểm tra sau thông quan

Hải quan thống nhất phân loại hàng hóa, trị giá và kiểm tra sau thông quan

Cục Hải quan đang triển khai nhiều giải pháp nhằm thống nhất phân loại hàng hóa, xác định trị giá hải quan và kiểm tra sau thông quan trên toàn quốc, đồng thời mở rộng quản lý rủi ro đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Kiểm soát nhập khẩu, tạm nhập tái xuất thiết bị bay không người lái

Kiểm soát nhập khẩu, tạm nhập tái xuất thiết bị bay không người lái

Cục Hải quan siết kiểm soát xuất nhập khẩu tàu bay không người lái, tập trung xác định rõ nguồn gốc, chủng loại và mục đích sử dụng.
Chính sách thuế tạo dư địa để kinh tế tư nhân lớn lên

Chính sách thuế tạo dư địa để kinh tế tư nhân lớn lên

Với mục tiêu đến năm 2030 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 55-58% GDP và 35-40% tổng thu ngân sách, các chuyên gia cho rằng, bài toán đặt ra cho chính sách thuế không chỉ là huy động nguồn thu hiện tại, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện mở rộng cơ sở thu, nâng cao năng suất và giúp chuyển hóa nguồn lực tư nhân để góp phần vào tăng trưởng bền vững.
Từ mùn cưa thành “than củi”: Vì sao viên nén đen chịu thuế 5%?

Từ mùn cưa thành “than củi”: Vì sao viên nén đen chịu thuế 5%?

Sau quá trình xử lý nhiệt, viên nén từ mùn cưa được xác định có bản chất là than sinh học, thuộc nhóm 44.02 - than củi. Theo đó, mặt hàng áp dụng thuế xuất khẩu 5%, mức thấp nhất trong khung thuế hiện hành.
Khoản chi do người lao động mua hộ có thể tính vào chi phí được khấu trừ

Khoản chi do người lao động mua hộ có thể tính vào chi phí được khấu trừ

Doanh nghiệp ủy quyền cho người lao động mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh vẫn có thể khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và tính khoản chi vào chi phí được trừ nếu đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hóa đơn, chứng từ, quy định nội bộ và phương thức thanh toán.
Luật Hải quan: Dữ liệu phải thực sự giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp

Luật Hải quan: Dữ liệu phải thực sự giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 mở ra yêu cầu mới đối với hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan khi dữ liệu được sử dụng ngày càng sâu trong quá trình xử lý thủ tục và quản lý hải quan. Từ thực tế trực tiếp làm thủ tục cho doanh nghiệp, Luật sư Phan Hoài Nam, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn W&A, Trọng tài viên VIAC, Giảng viên Học viện Tư pháp phân tích những thay đổi của Luật.
Hợp nhất quy định về xử phạt vi phạm hành chính thuế, hóa đơn

Hợp nhất quy định về xử phạt vi phạm hành chính thuế, hóa đơn

Bộ Tài chính vừa xác thực Văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-CP ngày 27/8/2026, hợp nhất các quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Xác định doanh thu, chi phí với hợp đồng xây dựng kéo dài nhiều năm

Xác định doanh thu, chi phí với hợp đồng xây dựng kéo dài nhiều năm

Cục Thuế vừa có Công văn số 6304/QLNT trả lời Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài, trong đó hướng dẫn việc ghi nhận doanh thu, chi phí giá vốn và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các hợp đồng xây dựng kéo dài qua nhiều năm.
Ưu đãi thuế, tạo “luồng xanh” thu hút nhà đầu tư công nghệ chiến lược

Ưu đãi thuế, tạo “luồng xanh” thu hút nhà đầu tư công nghệ chiến lược

Các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu cùng cơ chế “luồng xanh” hải quan đang được xem là những lợi thế quan trọng để thu hút nhà đầu tư vào Trung tâm Phát triển Công nghệ Chiến lược tại Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh.
Doanh nghiệp công nghệ chiến lược có thể hưởng thuế suất 10% trong 25 năm

Doanh nghiệp công nghệ chiến lược có thể hưởng thuế suất 10% trong 25 năm

Bộ Tài chính đề xuất doanh nghiệp công nghệ chiến lược, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao nhóm I và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Trong đó, một số nhóm có thể được áp dụng thuế suất 10% trong 25 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
Linh kiện thay thế cho doanh nghiệp chế xuất phải làm thủ tục hải quan

Linh kiện thay thế cho doanh nghiệp chế xuất phải làm thủ tục hải quan

Cục Hải quan khẳng định, linh kiện, phụ tùng bán cho doanh nghiệp chế xuất để thay thế, sửa chữa máy móc không thuộc trường hợp được lựa chọn thủ tục hải quan.
Hàng hóa đa chức năng được phân loại thế nào?

Hàng hóa đa chức năng được phân loại thế nào?

Cục Hải quan hướng dẫn nguyên tắc xác định mã số đối với hàng hóa tích hợp nhiều công dụng, ứng dụng công nghệ mới; đồng thời làm rõ quy định về trị giá hải quan và chứng nhận xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế theo các hiệp định thương mại tự do (FTA).