![]() |
| RCEP tạo nền tảng nâng cao giá trị hàng hóa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực, quốc tế. Ảnh Tư liệu. |
Mở rộng cơ hội để hàng Việt tiến sâu vào chuỗi cung ứng
Hiệp định RCEP được ký kết ngày 15/11/2020 giữa 10 nước ASEAN và 5 nước đối tác, bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand; chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2022. RCEP quy tụ khoảng 2,2 tỷ dân, GDP trên 26.000 tỷ USD, tương đương gần 30% dân số và 30% GDP toàn cầu; chiếm khoảng 29% thương mại hàng hóa và 32,5% đầu tư toàn cầu.
Theo ông Lê Triệu Dũng, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), sau hơn 8 năm đàm phán, RCEP chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2022, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Đây là khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới, quy tụ các nền kinh tế hàng đầu ở Châu Á - Thái Bình Dương, tạo nên một thị trường rộng lớn với nhiều tiềm năng hợp tác.
Sau hơn 4 năm có hiệu lực, RCEP đã phát huy rõ vai trò thúc đẩy xuất khẩu, thương mại và đầu tư giữa các thành viên. Hiệp định giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận tốt hơn các thị trường trong khối, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, quốc tế, tận dụng ưu đãi về thuế quan và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thực tế quan hệ thương mại giữa Việt Nam với khu vực ASEAN cho thấy, cơ hội đang được chuyển hóa thành kết quả thực chất. Trước đó, năm 2022 - năm đầu tiên RCEP có hiệu lực, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - ASEAN đạt 80,8 tỷ USD, mức kỷ lục trong một thập kỷ.
Theo số liệu của Cục Hải quan, năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam - ASEAN lần đầu tiên chạm ngưỡng gần 91 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực ASEAN đạt 38,4 tỷ USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 52,5 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ. Mức nhập siêu hơn 14 tỷ USD cho thấy, ASEAN hiện không chỉ là thị trường tiêu thụ lớn mà còn là nguồn cung nguyên liệu, linh kiện, máy móc và hàng hóa trung gian quan trọng phục vụ sản xuất trong nước.
Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong những tháng đầu năm 2026. Chỉ trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường ASEAN 18,5 tỷ USD, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước; đồng thời nhập khẩu từ khu vực này đạt 27,1 tỷ USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ.
Bên cạnh đó, ASEAN còn là thị trường đầy tiềm năng với gần 700 triệu dân và tầng lớp trung lưu tăng nhanh, kéo theo nhu cầu đối với các sản phẩm chất lượng cao ngày càng lớn. Sự tương đồng về lối sống, văn hóa cùng khoảng cách địa lý thuận lợi cũng giúp hàng hóa Việt Nam dễ thích nghi, rút ngắn thời gian và giảm chi phí logistics.
Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam chủ động nắm bắt biến động thị trường, đáp ứng các yêu cầu mới, thay vì chỉ ứng phó khi tiêu chuẩn hoặc rào cản kỹ thuật phát sinh. Từ đó, từng bước mở rộng hiện diện và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực.
Làm chủ xuất xứ, tiêu chuẩn để biến ưu đãi thành lợi thế
Dư địa lớn không đồng nghĩa với lợi thế tự động. Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa tham gia RCEP và tận dụng hiệu quả Hiệp định vẫn còn khá lớn. Những rào cản về tiêu chuẩn chất lượng, chi phí xét nghiệm và chứng nhận, vốn, logistics, vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực nội tại từ gốc.
TS. Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) cho rằng, RCEP mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và chuỗi cung ứng mới, nhất là nhờ quy tắc xuất xứ được hài hòa hơn và quy định thuận lợi hóa thương mại. Cơ chế cộng gộp xuất xứ cho phép tổ chức lại nguồn nguyên liệu và công đoạn sản xuất trong toàn khối, tạo cơ hội để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia từng công đoạn phù hợp năng lực.
Theo TS. Tô Hoài Nam, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao kiến thức về pháp lý, quy tắc xuất xứ; chuẩn hóa chứng từ, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc; khai thác cộng gộp khu vực, thương mại số và thương mại điện tử xuyên biên giới.
![]() |
| Xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường RCEP tiếp tục ghi nhận những kết quả tích cực. Ảnh: Tư liệu. |
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Bùi Thị Hạnh Hiếu, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Kinh doanh chế biến nông sản Bảo Minh cho biết, doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng vùng nguyên liệu và phát triển kênh phân phối. Xuất khẩu giúp tối ưu giá trị vùng nguyên liệu bao tiêu sản phẩm với nông dân; các sản phẩm như gạo nếp thơm, ST25 tạo sức hút với khách hàng quốc tế. Song, thị trường RCEP ngày càng hướng tới minh bạch vùng trồng, nông nghiệp xanh, tuần hoàn và chống phát thải carbon.
Bà Hiếu cho rằng, để xuất khẩu sản lượng lớn, phải kiểm soát đồng bộ tiêu chuẩn từ quy mô nhỏ nhất đến lớn nhất. Chi phí xét nghiệm, chứng nhận, vốn lưu động và đầu tư kho bãi, bảo quản, logistics… là áp lực lớn với doanh nghiệp nông nghiệp có biên lợi nhuận thấp.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải làm chủ dữ liệu về xuất xứ, nguồn gốc nguyên liệu và tỷ lệ nội địa hóa; chứng minh minh bạch giá trị gia tăng tạo ra ở từng công đoạn. Truy xuất nguồn gốc cần được vận hành bằng công nghệ hiện đại, gắn với quản trị dựa trên dữ liệu, thay vì chỉ đặt mã số để đối phó.
TS. Tô Hoài Nam đề nghị, chính sách hỗ trợ cần chuyển từ phổ biến thông tin diện rộng sang giải quyết bài toán giao dịch của từng ngành, từng thị trường, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận bình đẳng nguồn lực, nhất là tín dụng.
Có thể thấy, RCEP mở ra thị trường rộng lớn, nhiều cơ hội hợp tác, nhưng các ưu đãi chỉ phát huy giá trị khi doanh nghiệp Việt Nam biết chuyển hóa năng lực nội tại thành lợi thế cạnh tranh. Do đó, làm chủ xuất xứ, dữ liệu, tiêu chuẩn, vùng nguyên liệu và công nghệ là chìa khóa để gia tăng giá trị tạo ra trong nước. Đây cũng là điều kiện để hàng hóa Việt Nam nâng cao tỷ lệ nội địa, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và quốc tế. Khi năng lực doanh nghiệp được củng cố, hiệu quả hội nhập sẽ được phản ánh rõ, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững.