![]() |
| Ảnh minh họa có sợ hỗ trợ bởi AI. |
Phóng viên: Thưa bà, tại dự thảo Thông tư quy định cơ sở dữ liệu về thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của đơn vị (gọi tắt dự thảo), Bộ Công Thương đề xuất hướng tiếp cận mới, chuyển từ cách tiếp cận tập trung vào truy xuất nguồn gốc và hình thành cơ sở dữ liệu về thực phẩm có khả năng kết nối, chia sẻ với nhiều hệ thống dữ liệu khác. Bà đánh giá thế nào về sự thay đổi này?
ThS. Nguyễn Thị Lan Anh: Tôi cho rằng, đây là thay đổi đáng chú ý trong tư duy quản lý dữ liệu thực phẩm. Thông tư số 11/2026/TT-BCT ngày 27/2/2026 của Bộ Công Thương tập trung vào truy xuất nguồn gốc và xây dựng một hệ thống riêng. Trong khi đó, dự thảo mới chuyển hướng đưa dữ liệu thực phẩm vào cơ sở dữ liệu ngành Công Thương, đồng thời kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các hệ thống có liên quan.
|
Cách tiếp cận này phù hợp hơn với yêu cầu quản lý hiện nay, bởi trong lĩnh vực thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm nhập khẩu, nhiều thông tin quan trọng như nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, xuất xứ, kết quả kiểm nghiệm, tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, mã số lô hàng... đã được tạo lập trong quá trình quản lý và làm thủ tục. Nếu các dữ liệu này có thể kết nối, chia sẻ và sử dụng lại, hiệu quả quản lý sẽ được nâng lên mà không nhất thiết phải tạo thêm một hệ thống dữ liệu độc lập.
Tôi đánh giá tích cực việc dự thảo đặt ra nguyên tắc ưu tiên sử dụng dữ liệu đã được tạo lập, kết nối và chia sẻ. Tuy nhiên, điểm quan trọng là cần phân định rõ trách nhiệm quản lý, khai thác dữ liệu của cơ quan nhà nước với nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp. Không nên để doanh nghiệp phải nhập lại cùng một dữ liệu trên nhiều hệ thống chỉ vì các hệ thống chưa được kết nối thực chất.
Nếu cùng một thông tin mà doanh nghiệp vẫn phải khai báo nhiều lần, số hóa khi đó mới chỉ là chuyển thủ tục từ giấy sang điện tử, chứ chưa thực sự cải cách thủ tục hay giảm chi phí tuân thủ. Ngược lại, khi dữ liệu được kết nối và có thể sử dụng lại, doanh nghiệp sẽ giảm đáng kể việc kê khai trùng lặp, đồng thời cơ quan quản lý có thêm cơ sở để chuyển từ phương thức kiểm soát nặng về hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro.
Phóng viên: Như vậy, có thể hiểu rằng, không đơn thuần chỉ xây dựng thêm một hệ thống, mà khả năng hệ thống đó có thực sự cắt giảm thủ tục cho doanh nghiệp?
ThS. Nguyễn Thị Lan Anh: Đúng vậy. Ranh giới giữa giảm và tăng chi phí tuân thủ nằm ở cách thức tổ chức và vận hành cơ sở dữ liệu.
Nếu dữ liệu được xác thực một lần nhưng có thể sử dụng nhiều lần, doanh nghiệp sẽ giảm thời gian, giấy tờ, chi phí và cả nguy cơ sai lệch thông tin trong quá trình kê khai. Nhưng nếu xây dựng thêm một hệ thống mà vẫn yêu cầu doanh nghiệp nhập lại những dữ liệu cơ quan nhà nước đã có thì hệ thống đó có thể vô tình tạo thêm một tầng thủ tục.
Vì vậy, khi hoàn thiện chính sách, cần xem xét thấu đáo các vấn đề như: dữ liệu nào doanh nghiệp phải cung cấp mới; dữ liệu nào cơ quan nhà nước đã có và dữ liệu nào có thể kết nối, khai thác từ các hệ thống khác.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng cần quy định rõ hơn trách nhiệm đối với từng nguồn dữ liệu, nhất là nguồn dữ liệu, cơ chế xác thực và trạng thái xác thực khi dữ liệu được kết nối, chia sẻ giữa các hệ thống. Dữ liệu chỉ thực sự có giá trị quản lý khi cơ quan sử dụng biết dữ liệu đó đến từ đâu, được xác thực ở mức nào và ai chịu trách nhiệm về tính chính xác của nó.
Phóng viên: Việc chuyển từ xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc độc lập sang cơ sở dữ liệu về thực phẩm có khả năng kết nối với các hệ thống khác sẽ tạo ra những thay đổi gì đối với doanh nghiệp, thưa bà?
ThS. Nguyễn Thị Lan Anh: Theo tôi, thay đổi lớn nhất là mở ra khả năng chuyển quản lý theo từng thủ tục sang quản trị dữ liệu thống nhất. Nếu làm được điều này, thời gian và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp có thể sẽ giảm đáng kể.
Khi cơ sở dữ liệu về thực phẩm được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và hệ thống liên quan, những thông tin doanh nghiệp đã cung cấp cho cơ quan nhà nước có thể được khai thác, sử dụng lại thay vì yêu cầu doanh nghiệp kê khai nhiều lần.
Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, lợi ích trước hết nằm ở việc giảm các yêu cầu cung cấp thông tin trùng lặp, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục và tăng tính minh bạch trong quá trình quản lý.
Không chỉ vậy, dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quản lý hồ sơ, lô hàng và chuỗi cung ứng. Về phía cơ quan quản lý, đây là cơ sở để nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo sớm và quản lý theo mức độ rủi ro.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, những lợi ích này không tự động xuất hiện chỉ vì có thêm một cơ sở dữ liệu. Điều quan trọng là ngay từ khâu thiết kế phải xác định đây là một hạ tầng dữ liệu dùng chung, phục vụ kết nối và khai thác lại thông tin, chứ không phải là hệ thống để doanh nghiệp tiếp tục thực hiện thêm một vòng kê khai.
Nói cách khác, số hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp khai một lần, dữ liệu được sử dụng nhiều lần. Khi đó, dữ liệu không còn đơn thuần là yêu cầu quản lý mà trở thành một công cụ hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục, đồng thời giúp Nhà nước quản lý chính xác và hiệu quả.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!
| Dự thảo Thông tư quy định về cơ sở dữ liệu về thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương được xây dựng nhằm thay thế Thông tư số 11/2026/TT-BCT. Dự thảo chuyển từ cách tiếp cận xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc riêng sang hình thành cơ sở dữ liệu về thực phẩm, thuộc cơ sở dữ liệu ngành Công Thương. Cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ quản lý công nghiệp thực phẩm, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và truy xuất nguồn gốc; đồng thời tạo nền tảng kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. |