Thứ ba 01/09/2026 12:36
Thời tiết: Hà Nội 36°C
Đà Nẵng 27°C
Cà Mau 32°C
Hải Phòng 33°C
TP Hồ Chí Minh 32°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách
aa

Quản lý thực phẩm bằng dữ liệu: Giảm khai báo, tăng thuận lợi cho doanh nghiệp

Thái Hằng (Thực hiện)
Không xây dựng thêm một hệ thống truy xuất nguồn gốc riêng, Bộ Công Thương đề xuất hình thành cơ sở dữ liệu về thực phẩm có khả năng kết nối, chia sẻ với nhiều hệ thống dữ liệu khác. Thay đổi này không chỉ đặt ra yêu cầu mới trong quản lý thực phẩm mà còn có thể tác động trực tiếp đến chi phí, quy trình tuân thủ và khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã trao đổi với ThS. Nguyễn Thị Lan Anh, Khoa Kinh tế, Học viện Tài chính về vấn đề này.
Quản lý thực phẩm bằng dữ liệu: Giảm khai báo, tăng thuận lợi cho doanh nghiệp
Ảnh minh họa có sợ hỗ trợ bởi AI.

Phóng viên: Thưa bà, tại dự thảo Thông tư quy định cơ sở dữ liệu về thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của đơn vị (gọi tắt dự thảo), Bộ Công Thương đề xuất hướng tiếp cận mới, chuyển từ cách tiếp cận tập trung vào truy xuất nguồn gốc và hình thành cơ sở dữ liệu về thực phẩm có khả năng kết nối, chia sẻ với nhiều hệ thống dữ liệu khác. Bà đánh giá thế nào về sự thay đổi này?

ThS. Nguyễn Thị Lan Anh: Tôi cho rằng, đây là thay đổi đáng chú ý trong tư duy quản lý dữ liệu thực phẩm. Thông tư số 11/2026/TT-BCT ngày 27/2/2026 của Bộ Công Thương tập trung vào truy xuất nguồn gốc và xây dựng một hệ thống riêng. Trong khi đó, dự thảo mới chuyển hướng đưa dữ liệu thực phẩm vào cơ sở dữ liệu ngành Công Thương, đồng thời kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các hệ thống có liên quan.

Quản lý thực phẩm bằng dữ liệu: Giảm khai báo, tăng thuận lợi cho doanh nghiệp

Theo tôi, thay đổi lớn nhất là mở ra khả năng chuyển quản lý theo từng thủ tục sang quản trị dữ liệu thống nhất. Nếu làm được điều này, thời gian và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp có thể sẽ giảm đáng kể.

ThS. Nguyễn Thị Lan Anh

Cách tiếp cận này phù hợp hơn với yêu cầu quản lý hiện nay, bởi trong lĩnh vực thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm nhập khẩu, nhiều thông tin quan trọng như nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, xuất xứ, kết quả kiểm nghiệm, tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, mã số lô hàng... đã được tạo lập trong quá trình quản lý và làm thủ tục. Nếu các dữ liệu này có thể kết nối, chia sẻ và sử dụng lại, hiệu quả quản lý sẽ được nâng lên mà không nhất thiết phải tạo thêm một hệ thống dữ liệu độc lập.

Tôi đánh giá tích cực việc dự thảo đặt ra nguyên tắc ưu tiên sử dụng dữ liệu đã được tạo lập, kết nối và chia sẻ. Tuy nhiên, điểm quan trọng là cần phân định rõ trách nhiệm quản lý, khai thác dữ liệu của cơ quan nhà nước với nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp. Không nên để doanh nghiệp phải nhập lại cùng một dữ liệu trên nhiều hệ thống chỉ vì các hệ thống chưa được kết nối thực chất.

Nếu cùng một thông tin mà doanh nghiệp vẫn phải khai báo nhiều lần, số hóa khi đó mới chỉ là chuyển thủ tục từ giấy sang điện tử, chứ chưa thực sự cải cách thủ tục hay giảm chi phí tuân thủ. Ngược lại, khi dữ liệu được kết nối và có thể sử dụng lại, doanh nghiệp sẽ giảm đáng kể việc kê khai trùng lặp, đồng thời cơ quan quản lý có thêm cơ sở để chuyển từ phương thức kiểm soát nặng về hồ sơ sang quản lý dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro.

Phóng viên: Như vậy, có thể hiểu rằng, không đơn thuần chỉ xây dựng thêm một hệ thống, mà khả năng hệ thống đó có thực sự cắt giảm thủ tục cho doanh nghiệp?

ThS. Nguyễn Thị Lan Anh: Đúng vậy. Ranh giới giữa giảm và tăng chi phí tuân thủ nằm ở cách thức tổ chức và vận hành cơ sở dữ liệu.

Nếu dữ liệu được xác thực một lần nhưng có thể sử dụng nhiều lần, doanh nghiệp sẽ giảm thời gian, giấy tờ, chi phí và cả nguy cơ sai lệch thông tin trong quá trình kê khai. Nhưng nếu xây dựng thêm một hệ thống mà vẫn yêu cầu doanh nghiệp nhập lại những dữ liệu cơ quan nhà nước đã có thì hệ thống đó có thể vô tình tạo thêm một tầng thủ tục.

Vì vậy, khi hoàn thiện chính sách, cần xem xét thấu đáo các vấn đề như: dữ liệu nào doanh nghiệp phải cung cấp mới; dữ liệu nào cơ quan nhà nước đã có và dữ liệu nào có thể kết nối, khai thác từ các hệ thống khác.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng cần quy định rõ hơn trách nhiệm đối với từng nguồn dữ liệu, nhất là nguồn dữ liệu, cơ chế xác thực và trạng thái xác thực khi dữ liệu được kết nối, chia sẻ giữa các hệ thống. Dữ liệu chỉ thực sự có giá trị quản lý khi cơ quan sử dụng biết dữ liệu đó đến từ đâu, được xác thực ở mức nào và ai chịu trách nhiệm về tính chính xác của nó.

Phóng viên: Việc chuyển từ xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc độc lập sang cơ sở dữ liệu về thực phẩm có khả năng kết nối với các hệ thống khác sẽ tạo ra những thay đổi gì đối với doanh nghiệp, thưa?

ThS. Nguyễn Thị Lan Anh: Theo tôi, thay đổi lớn nhất là mở ra khả năng chuyển quản lý theo từng thủ tục sang quản trị dữ liệu thống nhất. Nếu làm được điều này, thời gian và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp có thể sẽ giảm đáng kể.

Khi cơ sở dữ liệu về thực phẩm được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và hệ thống liên quan, những thông tin doanh nghiệp đã cung cấp cho cơ quan nhà nước có thể được khai thác, sử dụng lại thay vì yêu cầu doanh nghiệp kê khai nhiều lần.

Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, lợi ích trước hết nằm ở việc giảm các yêu cầu cung cấp thông tin trùng lặp, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục và tăng tính minh bạch trong quá trình quản lý.

Không chỉ vậy, dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quản lý hồ sơ, lô hàng và chuỗi cung ứng. Về phía cơ quan quản lý, đây là cơ sở để nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo sớm và quản lý theo mức độ rủi ro.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, những lợi ích này không tự động xuất hiện chỉ vì có thêm một cơ sở dữ liệu. Điều quan trọng là ngay từ khâu thiết kế phải xác định đây là một hạ tầng dữ liệu dùng chung, phục vụ kết nối và khai thác lại thông tin, chứ không phải là hệ thống để doanh nghiệp tiếp tục thực hiện thêm một vòng kê khai.

Nói cách khác, số hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp khai một lần, dữ liệu được sử dụng nhiều lần. Khi đó, dữ liệu không còn đơn thuần là yêu cầu quản lý mà trở thành một công cụ hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục, đồng thời giúp Nhà nước quản lý chính xác và hiệu quả.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!

Dự thảo Thông tư quy định về cơ sở dữ liệu về thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương được xây dựng nhằm thay thế Thông tư số 11/2026/TT-BCT. Dự thảo chuyển từ cách tiếp cận xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc riêng sang hình thành cơ sở dữ liệu về thực phẩm, thuộc cơ sở dữ liệu ngành Công Thương. Cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ quản lý công nghiệp thực phẩm, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và truy xuất nguồn gốc; đồng thời tạo nền tảng kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ba cơ chế trong chính sách thuế giúp huy động nguồn lực cho tăng trưởng

Ba cơ chế trong chính sách thuế giúp huy động nguồn lực cho tăng trưởng

Theo PGS.TS. Lý Phương Duyên, Khoa Thuế và Hải quan (Học viện Tài chính), chính sách thuế không chỉ huy động nguồn thu mà còn góp phần mở rộng cơ sở thuế, nuôi dưỡng năng lực tạo nguồn thu và giảm chi phí tuân thủ.
Hải quan là cơ quan xác định cuối cùng mã HS để tính thuế

Hải quan là cơ quan xác định cuối cùng mã HS để tính thuế

Cục Hải quan khẳng định cơ quan Hải quan có trách nhiệm phân loại, xác định mã số hàng hóa (mã HS) theo Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam để làm cơ sở tính thuế; trường hợp có sự không thống nhất về mã số, cơ quan Hải quan chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan chuyên ngành để xác định theo quy định.
Đưa hàng về bảo quản không phải nộp ngay chứng từ địa điểm

Đưa hàng về bảo quản không phải nộp ngay chứng từ địa điểm

Từ vướng mắc của Công ty TNHH Thang máy Mitsubishi Việt Nam về chứng từ chứng minh địa điểm khi đưa thiết bị về bảo quản, Cục Hải quan hướng dẫn cụ thể hồ sơ tại thời điểm đề nghị và việc kiểm tra địa điểm sau đó.
Luật Hải quan mở thêm dư địa cho chuỗi logistics

Luật Hải quan mở thêm dư địa cho chuỗi logistics

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 mở rộng các địa điểm được tổ chức kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa và bổ sung quy định đối với hoạt động quá cảnh, trung chuyển, tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp tổ chức chuỗi logistics linh hoạt hơn.
Hải quan thống nhất phân loại hàng hóa, trị giá và kiểm tra sau thông quan

Hải quan thống nhất phân loại hàng hóa, trị giá và kiểm tra sau thông quan

Cục Hải quan đang triển khai nhiều giải pháp nhằm thống nhất phân loại hàng hóa, xác định trị giá hải quan và kiểm tra sau thông quan trên toàn quốc, đồng thời mở rộng quản lý rủi ro đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Kiểm soát nhập khẩu, tạm nhập tái xuất thiết bị bay không người lái

Kiểm soát nhập khẩu, tạm nhập tái xuất thiết bị bay không người lái

Cục Hải quan siết kiểm soát xuất nhập khẩu tàu bay không người lái, tập trung xác định rõ nguồn gốc, chủng loại và mục đích sử dụng.
Chính sách thuế tạo dư địa để kinh tế tư nhân lớn lên

Chính sách thuế tạo dư địa để kinh tế tư nhân lớn lên

Với mục tiêu đến năm 2030 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 55-58% GDP và 35-40% tổng thu ngân sách, các chuyên gia cho rằng, bài toán đặt ra cho chính sách thuế không chỉ là huy động nguồn thu hiện tại, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện mở rộng cơ sở thu, nâng cao năng suất và giúp chuyển hóa nguồn lực tư nhân để góp phần vào tăng trưởng bền vững.
Từ mùn cưa thành “than củi”: Vì sao viên nén đen chịu thuế 5%?

Từ mùn cưa thành “than củi”: Vì sao viên nén đen chịu thuế 5%?

Sau quá trình xử lý nhiệt, viên nén từ mùn cưa được xác định có bản chất là than sinh học, thuộc nhóm 44.02 - than củi. Theo đó, mặt hàng áp dụng thuế xuất khẩu 5%, mức thấp nhất trong khung thuế hiện hành.
Khoản chi do người lao động mua hộ có thể tính vào chi phí được khấu trừ

Khoản chi do người lao động mua hộ có thể tính vào chi phí được khấu trừ

Doanh nghiệp ủy quyền cho người lao động mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh vẫn có thể khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và tính khoản chi vào chi phí được trừ nếu đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hóa đơn, chứng từ, quy định nội bộ và phương thức thanh toán.
Luật Hải quan: Dữ liệu phải thực sự giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp

Luật Hải quan: Dữ liệu phải thực sự giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 mở ra yêu cầu mới đối với hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan khi dữ liệu được sử dụng ngày càng sâu trong quá trình xử lý thủ tục và quản lý hải quan. Từ thực tế trực tiếp làm thủ tục cho doanh nghiệp, Luật sư Phan Hoài Nam, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn W&A, Trọng tài viên VIAC, Giảng viên Học viện Tư pháp phân tích những thay đổi của Luật.
Hợp nhất quy định về xử phạt vi phạm hành chính thuế, hóa đơn

Hợp nhất quy định về xử phạt vi phạm hành chính thuế, hóa đơn

Bộ Tài chính vừa xác thực Văn bản hợp nhất số 27/2026/VBHN-NĐ-CP ngày 27/8/2026, hợp nhất các quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Xác định doanh thu, chi phí với hợp đồng xây dựng kéo dài nhiều năm

Xác định doanh thu, chi phí với hợp đồng xây dựng kéo dài nhiều năm

Cục Thuế vừa có Công văn số 6304/QLNT trả lời Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài, trong đó hướng dẫn việc ghi nhận doanh thu, chi phí giá vốn và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các hợp đồng xây dựng kéo dài qua nhiều năm.
Ưu đãi thuế, tạo “luồng xanh” thu hút nhà đầu tư công nghệ chiến lược

Ưu đãi thuế, tạo “luồng xanh” thu hút nhà đầu tư công nghệ chiến lược

Các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu cùng cơ chế “luồng xanh” hải quan đang được xem là những lợi thế quan trọng để thu hút nhà đầu tư vào Trung tâm Phát triển Công nghệ Chiến lược tại Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh.
Doanh nghiệp công nghệ chiến lược có thể hưởng thuế suất 10% trong 25 năm

Doanh nghiệp công nghệ chiến lược có thể hưởng thuế suất 10% trong 25 năm

Bộ Tài chính đề xuất doanh nghiệp công nghệ chiến lược, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao nhóm I và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Trong đó, một số nhóm có thể được áp dụng thuế suất 10% trong 25 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
Linh kiện thay thế cho doanh nghiệp chế xuất phải làm thủ tục hải quan

Linh kiện thay thế cho doanh nghiệp chế xuất phải làm thủ tục hải quan

Cục Hải quan khẳng định, linh kiện, phụ tùng bán cho doanh nghiệp chế xuất để thay thế, sửa chữa máy móc không thuộc trường hợp được lựa chọn thủ tục hải quan.