![]() |
| Cơ quan Hải quan chú trọng công tác nghiệp vụ nhằm chống gian lận về trị giá, mã số, xuất xứ hàng hóa . Ảnh: T.H |
Theo phản ánh từ Công ty TNHH CEA Projects, doanh nghiệp hiện đang thực hiện đơn đặt hàng cung ứng dịch vụ kiểm tra, sửa chữa có thu phí đối với cấu kiện điện gió đã qua sử dụng từ đối tác nước ngoài.
Các mặt hàng tiếp nhận bao gồm Khung chứa trụ tháp điện gió bằng thép và Chân đỡ trụ tháp điện gió bằng thép (mã HS 73089099), được nhập khẩu từ các quốc gia như Canada, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc và Ba Lan.
Bản chất của hoạt động này là không phát sinh giao dịch mua bán, hàng hóa không tiêu thụ nội địa tại Việt Nam và các khoản cước vận chuyển quốc tế hay bảo hiểm đều do phía người xuất khẩu chi trả. Công ty không phải thanh toán tiền mua hàng mà chỉ thu phí dịch vụ sửa chữa dựa trên hóa đơn thương mại và hợp đồng.
Từ thực tế này, doanh nghiệp lúng túng kiến nghị hướng dẫn cụ thể giữa hai cách kê khai trị giá hải quan nhập khẩu hoặc khai theo trị giá sửa chữa thực tế phát sinh có thanh toán theo thỏa thuận dịch vụ, hoặc phải khai theo trị giá gốc của chính hàng hóa nhập khẩu.
Về thủ tục và nghĩa vụ thuế, do hoạt động sửa chữa không theo điều kiện bảo hành của hợp đồng mua bán, doanh nghiệp xác định lô hàng sẽ thực hiện theo mã loại hình G14 (Tạm nhập khác) và không thuộc diện được miễn thuế hay hoàn thuế nhập khẩu.
Trước vướng mắc của doanh nghiệp, phương án xử lý từ cơ quan Hải quan chỉ rõ các căn cứ pháp lý hiện hành để áp dụng cho loại hình này. Về chính sách quản lý và thủ tục tạm nhập – tái xuất, nghĩa vụ thuộc về doanh nghiệp trong việc căn cứ vào hồ sơ, thực tế hoạt động sửa chữa và chính sách thuế để xác định mã loại hình phù hợp là “G13: Tạm nhập miễn thuế“ hoặc ”G14: Tạm nhập khác" theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 50 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 167/2025/NĐ-CP.
Đối với chính sách thuế, ranh giới phân loại đã được xác định rõ tại Nghị định số 134/2016/NĐ-CP và Nghị định số 18/2021/NĐ-CP. Hàng hóa tạm nhập tái xuất để sửa chữa chỉ được miễn thuế nếu tuân thủ đúng điều kiện bảo hành của hợp đồng mua bán.
Các trường hợp sửa chữa không theo điều kiện bảo hành như đơn hàng của CEA Projects bắt buộc không được miễn thuế nhập khẩu theo Điều 13, đồng thời không thuộc đối tượng được hoàn thuế theo quy định tại các Điều 34, 35, 36 của Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.
Riêng về nguyên tắc xác định trị giá hải quan, cơ quan Hải quan nhấn mạnh việc tuân thủ Điều 86 Luật Hải quan số 54/2014/QH13, Điều 20 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP sửa đổi bởi Nghị định số 167/2025/NĐ-CP cùng các thông tư hướng dẫn chuyên ngành.
Theo đó, trị giá hải quan hàng xuất khẩu được xác định trên cơ sở giá thực tế tính đến cửa khẩu xuất ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn thương mại. Trong khi đó, trị giá hải quan hàng nhập khẩu bắt buộc phải là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên.
Trị giá này không thể áp đặt tùy ý mà phải được xác định bằng cách áp dụng tuần tự đúng sáu phương pháp xác định trị giá hải quan theo quy định pháp luật và sẽ dừng ngay tại phương pháp nào tìm ra được trị giá.