![]() |
| Thông tư số 127/2026/TT-BTC xây dựng riêng nhóm thông tin khai báo về phương tiện, hàng hóa và hành khách. Ảnh: Cục Hải quan |
Đối với phương tiện vận tải đường bộ, Thông tư số 127/2026/TT-BTC bố trí riêng nhóm thông tin khai báo về người điều khiển phương tiện. Người khai phải cung cấp họ và tên, quốc tịch, số hộ chiếu, loại hộ chiếu, quốc gia cấp hộ chiếu, ngày hết hạn hộ chiếu, số căn cước đối với công dân Việt Nam và ngày cấp căn cước.
Trường hợp có giấy thông hành, các thông tin về số giấy thông hành, ngày cấp và nơi cấp cũng được khai theo từng chỉ tiêu.
Bên cạnh đó, hệ thống còn yêu cầu thông tin về giấy chứng nhận điều khiển phương tiện, cơ quan cấp và địa chỉ của người điều khiển. Cách bố trí này cho thấy thông tin về người điều khiển không chỉ dừng ở thông tin nhận dạng cơ bản mà được gắn với các giấy tờ liên quan đến việc điều khiển phương tiện.
Nhóm “Nhận dạng phương tiện” gồm loại phương tiện, nhãn hiệu, biển kiểm soát, nước đăng ký, màu, số chỗ ngồi, số khung, số máy và tải trọng hàng hóa. Trong đó, số khung và số máy được quy định thành các trường riêng, khai theo Giấy đăng ký xe.
Đối với xe đầu kéo, Thông tư số 127/2026/TT-BTC tiếp tục bố trí chỉ tiêu về biển kiểm soát sơ mi rơ moóc nếu có, số hiệu container và loại container. Như vậy, thông tin nhận dạng được phân tách theo từng bộ phận của phương tiện thay vì tập trung trong một trường dữ liệu chung.
Thông tin về chủ sở hữu phương tiện cũng được bố trí thành nhóm riêng, gồm họ và tên, quốc tịch và địa chỉ trong trường hợp người điều khiển không đồng thời là chủ sở hữu phương tiện.
Đối với giấy phép cho phương tiện vận tải qua biên giới, người khai tiếp tục phải cung cấp số giấy phép, ngày cấp, cơ quan cấp, tình trạng giấy phép có giá trị sử dụng nhiều lần hay không, thời hạn của giấy phép, thời hạn phương tiện được phép lưu hành tại Việt Nam, ngày tái xuất, phạm vi hoạt động và cửa khẩu tái xuất. Mục đích nhập cảnh của phương tiện cũng được bố trí thành một chỉ tiêu riêng.
Theo đại diện Cục Hải quan, cấu trúc này tạo mối liên hệ giữa người điều khiển - phương tiện - chủ sở hữu - giấy phép qua biên giới - hành khách và hàng hóa trong cùng một bộ chỉ tiêu khai báo.
Đối với tàu biển, mức độ chi tiết thể hiện ngay trong bản khai chung. Ngoài tên tàu, loại tàu và tên thuyền trưởng, các chỉ tiêu còn bao gồm số IMO (mã số nhận dạng quốc tế của tàu biển), hô hiệu (ký hiệu nhận dạng tàu trong liên lạc vô tuyến hàng hải), số chuyến đi, quốc tịch tàu, cảng đến/rời, thời gian đến/rời, vị trí của tàu tại cảng, giấy chứng nhận đăng ký, cảng đăng ký, tổng dung tích, dung tích thực, số lượng thuyền viên và số lượng hành khách.
Thông tin về đại lý của chủ tàu tại Việt Nam cũng được tách thành các trường gồm mã đại lý, mã số thuế, tên, địa chỉ, số điện thoại, số fax và địa chỉ thư điện tử. Với hành trình của tàu, người khai phải cung cấp thông tin về các cảng trước đó, cảng tiếp theo và cảng dỡ hàng; riêng các cảng trước đó được khai tối đa 10 cảng cùng thời gian đến/rời theo yêu cầu của biểu mẫu.
Đối với hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, Thông tư số 127/2026/TT-BTC xây dựng riêng nhóm bản khai hàng hóa, trong đó các thông tin được tổ chức từ mã người phát hành vận đơn, số vận đơn chủ, ngày phát hành vận đơn đến người gửi hàng, người nhận hàng, người được thông báo, mã HS và mô tả hàng hóa.
Mã HS được khai theo thông tin ghi trên chứng từ vận tải nếu có, với mã HS có thể thể hiện ở mức 4, 6 hoặc 8 số theo quy định. Trường hợp có nhiều mặt hàng, người khai thực hiện khai mã HS của loại hàng có giá trị chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị lô hàng.
Đối với mô tả hàng hóa, chỉ tiêu không chỉ yêu cầu tên hàng mà còn bao gồm ký hiệu, số hiệu hàng hóa và các thông tin khác nếu có như model, ký/mã hiệu, đặc tính, thông số kỹ thuật, thành phần cấu tạo, công dụng và tổng số lượng container ghi trên chứng từ vận tải.
Phần thông tin về phương thức vận chuyển cũng được phân loại cụ thể, gồm hàng vận chuyển bằng container, hàng rời đóng kiện, hàng rời dạng xá và hàng lỏng. Với hàng đóng trong container, số hiệu container được khai theo đúng định dạng; số seal container được khai theo chứng từ vận tải. Biểu mẫu đồng thời có các trường về trạng thái container và hàng hóa nguy hiểm.
Các chỉ tiêu tiếp theo bao gồm trọng lượng tịnh, đơn vị tính, trọng lượng, đơn vị tính trọng lượng, tổng số kiện hàng, đơn vị tính số lượng kiện, kích thước/thể tích, cảng xếp hàng, cảng xếp hàng gốc, cảng quá cảnh/trung chuyển và cảng dỡ hàng.
Đối với vận tải hàng không, cấu trúc khai báo tiếp tục được phân tách theo từng loại thông tin. Phụ lục II Thông tư số 127/2026/TT-BTC bố trí riêng nhóm thông tin chuyến bay, bản khai hàng hóa xuất nhập khẩu, vận đơn chủ, vận đơn thứ cấp, danh sách tổ lái và nhân viên làm việc trên tàu bay, danh sách hành khách, bản lược khai hành lý ký gửi và thông tin đặt chỗ của hành khách (PNR).
Trong bản khai hàng hóa hàng không, các trường tiếp tục đi sâu vào số vận đơn chủ, mô tả từng loại hàng, phân loại đóng gói, trọng lượng, số lượng kiện, mã cảng/sân bay, thời gian dự kiến đến, người gửi, người nhận, người được thông báo, mã cảng/sân bay đi, đến và đích, mã phân loại mặt hàng, loại container, cước phí và trị giá khai báo hải quan.
Đại diện Cục Hải quan cho biết, cách bố trí theo từng nhóm phương tiện và từng loại chứng từ cho thấy Thông tư số 127/2026/TT-BTC không xây dựng một bộ chỉ tiêu chung áp dụng đồng nhất cho mọi loại hình vận tải, mà phân tách theo đặc điểm phương tiện, hành trình, người điều khiển, hành khách và hàng hóa.
Với doanh nghiệp vận tải, đại lý và các đơn vị thực hiện khai báo, điểm cần lưu ý là dữ liệu đầu vào phải đáp ứng đúng từng trường thông tin tương ứng. Các dữ liệu như số hộ chiếu, số căn cước, biển kiểm soát, số khung, số máy, số giấy phép, số IMO, số vận đơn, số hiệu container, mã HS… được xác định thành những chỉ tiêu riêng trong các phụ lục, do đó cần được rà soát và chuẩn hóa trong hệ thống dữ liệu của doanh nghiệp trước khi thực hiện khai báo theo quy định mới.