![]() |
| Chính sách giảm 30% thuế có ý nghĩa thiết thực trong việc giảm nghĩa vụ tài chính và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh cho hộ kinh doanh. Ảnh: Quỳnh Hương |
Theo Nghị định số 398/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành, cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh, được giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân (TNCN) phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 nếu doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng.
Chính sách được áp dụng đối với toàn bộ thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân kinh doanh, không phân biệt phương pháp tính thuế TNCN.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, bà Vũ Thị Bình, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo Quản trị Doanh nghiệp Bình Vũ, đánh giá đây là sự hỗ trợ đáng kể của Nhà nước đối với cộng đồng hộ, cá nhân kinh doanh, nhất là trong bối cảnh nhiều hộ đang quan tâm đến những thay đổi về chính sách thuế.
Theo quan sát của bà Bình, một bộ phận hộ kinh doanh hiện dành nhiều sự quan tâm hơn đến các đề xuất điều chỉnh ngưỡng doanh thu tính thuế, nên chưa thực sự nhận thấy hết lợi ích của chính sách giảm 30% số thuế phải nộp.
Tuy nhiên, nếu tính toán cụ thể, số tiền được giảm không hề nhỏ. Chẳng hạn, một hộ kinh doanh có số thuế TNCN phải nộp là 20 triệu đồng, khi được giảm 30% sẽ giảm được 6 triệu đồng, số thuế thực tế còn phải nộp là 14 triệu đồng.
Với số lượng lớn hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng/năm, bà Bình cho rằng chính sách này có ý nghĩa thiết thực trong việc giảm nghĩa vụ tài chính và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Dù vậy, chuyên gia đặc biệt lưu ý, điều kiện doanh thu không quá 10 tỷ đồng phải được xác định trên tổng doanh thu thực tế của toàn bộ hoạt động kinh doanh trong năm, chứ không chỉ căn cứ vào doanh thu dự kiến khi kê khai giảm thuế.
Theo điểm c khoản 4 Điều 2 Nghị định số 398/2026/NĐ-CP, trường hợp tổng doanh thu thực tế trong năm vượt 10 tỷ đồng, cá nhân kinh doanh không còn thuộc đối tượng được giảm 30% thuế TNCN và phải nộp bổ sung toàn bộ số thuế đã được giảm trước đó.
Khi phát sinh doanh thu lũy kế từ đầu năm vượt 10 tỷ đồng, người kinh doanh phải kê khai điều chỉnh theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định, đồng thời nộp cùng hồ sơ khai thuế của kỳ phát sinh doanh thu vượt ngưỡng.
Đáng chú ý, Nghị định số 398/2026/NĐ-CP quy định số thuế phải nộp bổ sung do xác định lại điều kiện giảm thuế không bị tính tiền chậm nộp đến thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ phát sinh doanh thu lũy kế vượt 10 tỷ đồng.
Như vậy, việc không tính tiền chậm nộp không đồng nghĩa với việc hộ kinh doanh được giữ lại khoản thuế đã giảm hoặc được miễn nghĩa vụ kê khai điều chỉnh.
Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý đối với những hộ có doanh thu tăng mạnh vào những tháng cuối năm. Nếu doanh thu thực tế vượt ngưỡng, khoản giảm thuế đã được hưởng trong các kỳ trước phải được tính toán và nộp bổ sung theo quy định.
Bên cạnh việc kiểm soát doanh thu, bà Vũ Thị Bình đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu quản lý hóa đơn, chứng từ đối với những hộ kinh doanh tính thuế TNCN trên cơ sở thu nhập tính thuế, được xác định từ doanh thu trừ chi phí được trừ.
“Đây là vấn đề mà hộ kinh doanh cần quan tâm ngay từ quá trình tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, thay vì chỉ tập trung vào mức thuế được giảm”, bà Vũ Thị Bình lưu ý.
Đối với hộ kinh doanh thuộc diện tính thuế theo thu nhập, số thuế TNCN phải nộp phụ thuộc trực tiếp vào việc xác định doanh thu và các khoản chi phí được trừ theo quy định.
Trong khi đó, để một khoản chi phí được chấp nhận khi xác định thu nhập tính thuế, người kinh doanh cần có hồ sơ, hóa đơn, chứng từ và tài liệu liên quan đáp ứng điều kiện pháp luật.
Bên cạnh đó, ba Vũ Thị Bình cũng cho rằng, hộ kinh doanh phải đặc biệt quan tâm đến việc lưu giữ hóa đơn, chứng từ đầu vào, đầu ra cũng như những giấy tờ chứng minh các khoản chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh.
Bởi nếu chi phí không đáp ứng điều kiện được trừ và bị loại khi xác định thu nhập tính thuế, số thuế TNCN phải nộp sẽ tăng lên. Khi đó, dù được giảm 30%, nghĩa vụ thuế thực tế của hộ kinh doanh vẫn có thể ở mức cao.
![]() |
| "Để thực sự được hưởng lợi từ chính sách, hộ kinh doanh cần đồng thời thực hiện tốt việc kê khai doanh thu, quản lý chi phí và lưu giữ đầy đủ hồ sơ chứng minh các giao dịch kinh tế phát sinh. Việc quản lý chứng từ không chỉ phục vụ kê khai thuế trong từng kỳ mà còn là căn cứ quan trọng khi cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, đối chiếu hoặc xác định lại nghĩa vụ thuế." Bà Vũ Thị Bình |
Có thể hình dung, nếu một hộ kinh doanh phát sinh nhiều khoản chi phí phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng không có đủ chứng từ hợp lệ để chứng minh, các khoản chi phí này có nguy cơ không được chấp nhận khi tính thuế. Thu nhập tính thuế vì vậy có thể cao hơn so với kết quả mà hộ kinh doanh tự xác định ban đầu.
Đây cũng là điểm khác biệt cần nhận thức rõ giữa chính sách giảm thuế và việc xác định nghĩa vụ thuế. Giảm 30% số thuế phải nộp không có nghĩa là giảm 30% doanh thu, cũng không làm thay đổi các điều kiện xác định chi phí được trừ.
Một vấn đề khác được nhiều hộ kinh doanh quan tâm là cách xử lý đối với số thuế TNCN đã kê khai, nộp trong những tháng đầu năm 2026, trước thời điểm Nghị định số 398/2026/NĐ-CP có hiệu lực.
Đặc biệt, mặc dù Nghị định số 398/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 29/10/2026 nhưng chính sách giảm thuế được áp dụng cho cả kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027. Do đó, những hộ kinh doanh đã thực hiện kê khai thuế trong ba quý đầu năm 2026 vẫn có thể được xác định lại số thuế được giảm nếu đáp ứng điều kiện.
Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 2, trường hợp cá nhân kinh doanh đã kê khai thuế TNCN nhưng chưa kê khai số thuế được giảm thì được lựa chọn khai điều chỉnh, bổ sung hồ sơ khai thuế đã nộp hoặc xác định khoản giảm khi quyết toán thuế năm theo quy định.
Như vậy, hộ kinh doanh không bị mất quyền lợi chỉ vì đã hoàn thành việc kê khai, nộp thuế trước khi Nghị định được ban hành.
Đối với năm 2026, khi đã bước sang quý IV, hộ kinh doanh có thể cân nhắc thực hiện việc xác định khoản giảm thuế vào cuối năm để thuận tiện trong quá trình tổng hợp doanh thu và tính toán nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên, đây là khuyến nghị không phải yêu cầu bắt buộc. Người kinh doanh vẫn có quyền khai điều chỉnh, bổ sung hồ sơ của các kỳ trước theo quy định.
Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính thuế suất trên doanh thu, nếu phát sinh số thuế đã nộp lớn hơn số phải nộp sau khi áp dụng chính sách giảm thuế, khoản nộp thừa được xử lý vào cuối năm thông qua bù trừ, hoàn trả hoặc hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Trường hợp tổng doanh thu thực tế vượt ngưỡng 10 tỷ đồng, cá nhân kinh doanh sử dụng Mẫu số 03 để xác định lại số thuế phải nộp và kê khai bổ sung khoản thuế đã được giảm.
Bà Vũ Thị Bình cho rằng các thủ tục kê khai được thiết kế tương đối đơn giản. Tuy nhiên, người kinh doanh cần theo dõi việc cập nhật các mẫu biểu trên hệ thống hỗ trợ kê khai và dịch vụ công để thực hiện đúng quy định.
Đối với kỳ tính thuế năm 2027, hộ kinh doanh có thể chủ động xác định khoản giảm ngay trong quá trình kê khai từng kỳ nếu dự kiến doanh thu năm không vượt 10 tỷ đồng.
| Ba trường hợp kê khai giảm 30% thuế TNCN 1. Cá nhân kinh doanh tự kê khai: Sử dụng Mẫu số 01 để kê khai giảm thuế, nộp cùng hồ sơ khai thuế quý, 6 tháng đầu năm, 6 tháng cuối năm hoặc năm. 2. Tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay: Sử dụng Mẫu số 02 để kê khai khoản thuế được giảm, nộp cùng tờ khai thuế TNCN theo tháng, quý hoặc lần phát sinh. 3. Doanh thu thực tế vượt 10 tỷ đồng/năm: Sử dụng Mẫu số 03 để kê khai điều chỉnh và nộp bổ sung số thuế đã được giảm, cùng hồ sơ khai thuế của kỳ phát sinh doanh thu lũy kế vượt 10 tỷ đồng. (Theo Điều 2 Nghị định số 398/2026/NĐ-CP). |