![]() |
| PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế (Đại học Kinh tế Quốc dân). Ảnh: Internet. |
Phóng viên: Thưa ông, Chính phủ vừa quyết định áp dụng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt 0% đối với xăng. Ông đánh giá như thế nào về tính kịp thời của chính sách này, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm đời sống người dân những tháng cuối năm?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng, việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng vào thời điểm này là một quyết định rất kịp thời, có ý nghĩa đối với cả nền kinh tế và đời sống người dân.
Trước hết, giảm thuế góp phần tạo điều kiện giảm giá xăng, qua đó hỗ trợ kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Trong bối cảnh chúng ta đang nỗ lực kiểm soát lạm phát quanh mức mục tiêu 4,5%, việc giảm áp lực giá đối với những mặt hàng năng lượng có ý nghĩa rất quan trọng.
Xăng là yếu tố đầu vào của nhiều hoạt động sản xuất, vận tải và lưu thông hàng hóa. Vì vậy, khi giá xăng giảm, tác động không chỉ dừng lại ở chi phí sử dụng trực tiếp mà còn có khả năng lan tỏa đến nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế.
Nếu các yếu tố giá năng lượng diễn biến thuận lợi, cùng với tác động của chính sách giảm thuế, áp lực tăng giá trong những tháng cuối năm có thể được giảm bớt. Điều này góp phần củng cố ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kiểm soát lạm phát.
Theo tôi, duy trì tăng trưởng cao trong khi kiểm soát được lạm phát là một thành công quan trọng của công tác điều hành kinh tế. Việc Chính phủ chủ động sử dụng công cụ thuế vào thời điểm này cũng tạo ra tín hiệu tích cực về sự ổn định của nền kinh tế.
Tuy nhiên, điều tôi muốn nhấn mạnh hơn là tác động trực tiếp đối với người dân. Những người thường xuyên sử dụng phương tiện giao thông, các đơn vị vận tải và những ngành nghề tiêu thụ nhiều nhiên liệu sẽ có cơ hội giảm bớt chi phí. Khi chi phí sinh hoạt giảm, thu nhập thực tế của người dân được cải thiện, họ có thêm điều kiện chi tiêu, tiêu dùng và nâng cao đời sống.
Đây là vấn đề rất đáng quan tâm, bởi tăng trưởng kinh tế cao nhưng người dân cũng phải cảm nhận được lợi ích từ sự tăng trưởng đó.
Việc giảm thuế, góp phần giảm giá các mặt hàng thiết yếu chính là một cách đưa thành quả tăng trưởng vào “túi tiền” của người dân. Tôi cho rằng đây là sự hài hòa cần thiết giữa lợi ích tăng trưởng của quốc gia với lợi ích của từng người dân, từng gia đình và doanh nghiệp.
Phóng viên: Không chỉ giảm thuế đối với xăng, nhiều chính sách hỗ trợ khác cũng đang được triển khai như giảm 2% thuế GTGT, giảm 30% thuế thu nhập đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh đáp ứng điều kiện có doanh thu năm 2026 và 2027 không quá 10 tỷ đồng giảm. Theo ông, việc thực hiện đồng thời các chính sách này có ý nghĩa như thế nào đối với tăng trưởng kinh tế và sức mua của thị trường trong giai đoạn cuối năm?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, việc triển khai đồng thời nhiều chính sách giảm thuế thể hiện định hướng nới lỏng tài khóa nhằm hỗ trợ nền kinh tế. Đây là cách điều hành phù hợp với thời điểm hiện nay.
Vấn đề quan trọng của chính sách tài khóa nới lỏng là khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Khi doanh nghiệp và người dân có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực được hỗ trợ, chính sách sẽ không chỉ giải quyết khó khăn trước mắt mà còn tạo ra động lực tăng trưởng mới.
Việc giảm thuế giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thêm nguồn lực tài chính, giảm bớt áp lực chi phí và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với người tiêu dùng, giảm thuế góp phần cải thiện khả năng chi tiêu, kích thích nhu cầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ.
Đáng chú ý, các chính sách được triển khai vào thời điểm cuối năm, khi nhu cầu tiêu dùng, mua sắm và sinh hoạt thường tăng cao. Đây là giai đoạn mà những biện pháp hỗ trợ sức mua có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa nhanh chóng.
Trong nền kinh tế, tiêu dùng và sản xuất có mối quan hệ tác động qua lại. Khi nhu cầu đối với một nhóm hàng hóa tăng lên, hoạt động sản xuất, vận chuyển, phân phối và các dịch vụ liên quan cũng có thêm cơ hội phát triển.
Một đồng chi tiêu được đưa vào nền kinh tế có thể tạo ra những tác động tiếp nối ở nhiều khâu. Tiêu dùng tăng sẽ thúc đẩy sản xuất; sản xuất mở rộng tạo thêm việc làm, thu nhập và tiếp tục hỗ trợ tiêu dùng. Chính sự lan tỏa đó có thể tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới.
Tôi cho rằng, điểm tích cực trong điều hành chính sách tài khóa hiện nay là không chỉ giảm thuế đối với một lĩnh vực riêng lẻ, mà sử dụng đồng thời nhiều công cụ để hỗ trợ cả phía sản xuất và tiêu dùng.
Khi các chính sách được thực hiện đúng thời điểm, phù hợp với khả năng hấp thụ của nền kinh tế, hiệu quả hỗ trợ sẽ được nhân lên. Đây là cơ sở để tạo thêm động lực tăng trưởng trong thời gian tới.
![]() | |
|
Phóng viên: Phát biểu làm rõ các nội dung đại biểu Quốc hội quan tâm tại Phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và đầu tư công sáng 31/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh quan điểm, tăng trưởng kinh tế phải gắn với việc người dân được thụ hưởng thành quả phát triển. Từ góc độ chính sách tài khóa, ông nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa của các chính sách giảm thuế hiện nay trong việc hiện thực hóa quan điểm này?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi rất đồng tình với quan điểm này. Tăng trưởng kinh tế cuối cùng phải hướng đến nâng cao đời sống và phúc lợi của người dân.
Chúng ta có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao, nhưng nếu người dân không cảm nhận được sự cải thiện trong thu nhập, chi tiêu và điều kiện sống thì ý nghĩa của tăng trưởng chưa được thể hiện đầy đủ.
Theo tôi, việc giảm thuế đối với xăng, giảm thuế GTGT và hỗ trợ về thuế thu nhập cho các chủ thể kinh doanh chính là những biện pháp để đưa lợi ích từ tăng trưởng kinh tế vào đời sống thực tế.
Nói một cách dễ hiểu, đây là cách đưa thành quả tăng trưởng vào “túi tiền” của người dân.
Khi người dân được giảm bớt chi phí tiêu dùng, doanh nghiệp và hộ kinh doanh được giảm nghĩa vụ thuế theo chính sách, phần nguồn lực tiết kiệm được có thể sử dụng cho những nhu cầu thiết thực hơn. Đó chính là sự cải thiện về thu nhập thực tế và phúc lợi kinh tế.
Điều quan trọng là người dân phải biết mình được hưởng lợi gì từ chính sách. Chẳng hạn, hộ kinh doanh thuộc diện được giảm thuế cần được tiếp cận đầy đủ thông tin và thực sự thụ hưởng khoản giảm đó.
Nếu chính sách đã ban hành nhưng người dân, doanh nghiệp không biết hoặc không tiếp cận được thì hiệu quả hỗ trợ sẽ bị hạn chế. Khi đó, họ cũng khó cảm nhận được lợi ích mà quá trình tăng trưởng kinh tế mang lại.
Tôi cho rằng, những chính sách giảm thuế đang được triển khai thể hiện sự chuyển biến theo hướng thực chất hơn trong điều hành. Chính sách không chỉ hướng đến các chỉ tiêu tổng thể mà còn quan tâm đến lợi ích của từng cá nhân, gia đình và doanh nghiệp.
Khi người dân cảm nhận được sự cải thiện về thu nhập thực tế và phúc lợi, niềm tin đối với chính sách điều hành của Chính phủ cũng được củng cố. Niềm tin đó tiếp tục tạo động lực cho tiêu dùng, lao động, sản xuất và kinh doanh.
Tôi đánh giá cao sự chủ động của Chính phủ, đặc biệt là vai trò tham mưu của Bộ Tài chính trong việc triển khai các chính sách này. Việc lựa chọn thời điểm cuối năm để thực hiện các biện pháp hỗ trợ là phù hợp, bởi đây cũng là lúc nhu cầu chi tiêu lớn và nền kinh tế cần thêm những động lực để duy trì đà tăng trưởng.
Phóng viên: Việc triển khai đồng thời nhiều chính sách giảm thuế có thể làm giảm nguồn thu ngân sách trong ngắn hạn. Tuy nhiên, các chính sách này cũng được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực cho sản xuất kinh doanh, mở rộng cơ sở thuế trong tương lai. Ông đánh giá như thế nào về sự cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng trước mắt và yêu cầu bảo đảm nguồn thu ngân sách bền vững trong dài hạn?
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Cần nhìn nhận vấn đề này trên quan điểm dài hạn. Giảm thuế ở thời điểm hiện tại không có nghĩa là nguồn thu ngân sách sẽ giảm tương ứng trong tương lai.
Chẳng hạn, đối với chính sách giảm thuế thu nhập cho những hộ kinh doanh, doanh nghiệp có quy mô doanh thu nhỏ, mục tiêu không chỉ là giảm bớt nghĩa vụ tài chính trước mắt mà còn tạo điều kiện để họ phát triển.
Khi được giảm thuế, các chủ thể kinh doanh có thêm nguồn lực để duy trì hoạt động, tích lũy vốn, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Một hộ kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng hôm nay, nếu được tạo điều kiện thuận lợi, có thể từng bước phát triển lên quy mô lớn hơn trong tương lai. Khi quy mô sản xuất kinh doanh mở rộng, doanh thu và thu nhập tăng lên, khả năng đóng góp cho ngân sách cũng sẽ lớn hơn.
Như vậy, Nhà nước có thể chấp nhận giảm một phần nguồn thu trước mắt để tạo điều kiện hình thành những chủ thể kinh doanh có năng lực đóng góp cao hơn trong dài hạn.
Tôi gọi đây là chính sách nuôi dưỡng nguồn thu, chứ không đơn thuần là chính sách giảm thu.
Đây là sự khác biệt rất quan trọng trong tư duy điều hành tài khóa. Nếu chỉ nhìn vào số thu ngân sách trong một thời điểm, chúng ta có thể thấy khoản thuế được giảm là một phần nguồn thu chưa thực hiện. Nhưng nếu nhìn vào cả quá trình phát triển của doanh nghiệp và hộ kinh doanh, chính sách hỗ trợ có thể tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn nhiều trong tương lai.
Khi những cơ sở kinh doanh còn nhỏ, còn yếu, Nhà nước tạo điều kiện để họ có thêm nguồn lực phát triển. Đến khi hoạt động ổn định, quy mô mở rộng, họ sẽ có khả năng đóng góp nhiều hơn cho ngân sách và nền kinh tế.
Theo tôi, đó là một tầm nhìn dài hạn, thể hiện quan điểm nuôi dưỡng và mở rộng cơ sở thuế thay vì chỉ tập trung vào nguồn thu trước mắt.
Bên cạnh ý nghĩa đối với ngân sách, các chính sách giảm thuế còn có tác dụng giảm bớt sức ép đối với nền kinh tế trong giai đoạn cuối năm.
Trong điều kiện kinh tế thế giới và trong nước vẫn tiềm ẩn những biến động khó lường, đặc biệt là nguy cơ tăng giá từ bên ngoài, việc giảm thuế có thể góp phần làm dịu áp lực chi phí và hạn chế những tác động bất lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tôi cho rằng, đây là một cách điều hành giúp nền kinh tế thích ứng mềm dẻo hơn trước các biến động, tránh những cú sốc quá lớn về chi phí và giá cả. Khi áp lực được giảm bớt, doanh nghiệp có điều kiện ổn định hoạt động, chủ động kế hoạch kinh doanh, mở rộng đầu tư. Người dân cũng yên tâm hơn trong tiêu dùng và sinh hoạt.
Một khía cạnh nữa mà tôi muốn nhấn mạnh là, chính sách hỗ trợ còn góp phần nâng cao trách nhiệm đóng góp của các chủ thể trong nền kinh tế. Khi doanh nghiệp, hộ kinh doanh được Nhà nước tạo điều kiện trong giai đoạn khó khăn, họ có thêm cơ hội phát triển. Khi đã lớn mạnh, khả năng và trách nhiệm đóng góp trở lại cho ngân sách, cho xã hội cũng tăng lên.
Vì vậy, tôi đánh giá cao cách tiếp cận này. Đây không chỉ là những giải pháp giảm thuế mang tính thời điểm, mà còn thể hiện tư duy điều hành hướng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!