![]() |
| Chính sách giảm 30% thuế giúp người nộp thuế bổ sung vốn lưu động, hỗ trợ trả lương, duy trì hoạt động hoặc đầu tư công nghệ. Ảnh: Đức Mỹ |
Phóng viên: Thưa ông, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 398/2026/NĐ-CP ngày 29/10/2026 quy định chi tiết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp theo quy định tại Nghị quyết số 43/2026/QH16. Theo ông, chính sách giảm 30% thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng/năm, tác động như thế nào đối với doanh nghiệp và nguồn thu ngân sách nhà nước?
Ông Đồng Minh Hồng: Theo tôi, chính sách này hỗ trợ trực tiếp dòng tiền và tăng phần thu nhập được giữ lại cho doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh đủ điều kiện. Với cơ sở có doanh thu không quá 10 tỷ đồng một năm, khoản thuế được giảm có thể bổ sung vốn lưu động, hỗ trợ trả lương, duy trì hoạt động hoặc đầu tư công nghệ. Áp dụng cho hai kỳ tính thuế 2026 và 2027 cũng giúp người kinh doanh chủ động hơn trong kế hoạch tài chính.
Tuy nhiên, mức hưởng lợi phụ thuộc số thuế thực tế phải nộp. Doanh nghiệp bị lỗ, không phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp sẽ không có khoản thuế để giảm, nhóm này vẫn cần các giải pháp hỗ trợ phù hợp khác.
Đối với ngân sách, nguồn thu trực tiếp từ nhóm được hưởng sẽ giảm trong ngắn hạn so với trường hợp không có chính sách. Nhưng không thể hiểu tổng thu ngân sách giảm 30%, bởi tỷ lệ này chỉ áp dụng với số thuế thuộc phạm vi hỗ trợ.
Về trung hạn, duy trì sản xuất, việc làm và khuyến khích kê khai minh bạch có thể góp phần củng cố cơ sở thu. Đây là tác động kỳ vọng, cần đánh giá bằng số liệu thực tế, không nên mặc nhiên cho rằng phần giảm thu sẽ được bù đắp hoàn toàn. Khâu thực hiện vì thế cần đơn giản để khoản hỗ trợ đến đúng người.
Phóng viên: Theo Nghị định số 398/2026/NĐ-CP thì đối tượng nào được áp dụng và trường hợp nào không được áp dụng chính sách này?
Ông Đồng Minh Hồng: Có hai nhóm chính được áp dụng chính sách này, gồm: Thứ nhất là cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cá nhân đăng ký hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền đại diện hộ kinh doanh.
Thứ hai là người nộp thuế TNDN thành lập theo pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác có hoạt động kinh doanh có thu nhập.
Tuy nhiên, cả hai nhóm phải đáp ứng ngưỡng doanh thu năm không quá 10 tỷ đồng, xét riêng từng năm 2026 và 2027. Ví dụ, doanh thu năm 2026 là 9 tỷ đồng, năm 2027 là 11 tỷ đồng, nếu đáp ứng điều kiện còn lại, chỉ được giảm cho năm 2026. Doanh thu đúng 10 tỷ đồng vẫn trong ngưỡng.
|
Đối với doanh nghiệp, doanh thu xét ngưỡng gồm doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ (không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu tài chính và thu nhập khác. Phải tính cả doanh thu đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh trên báo cáo tài chính tổng hợp năm. Với cá nhân kinh doanh, doanh thu xác định theo Điều 4, Điều 5 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 141/2026/NĐ-CP.
Ngoài phạm vi áp dụng là cá nhân không cư trú; thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập cá nhân (TNCN) không phải thu nhập kinh doanh thuộc Điều 2; doanh nghiệp, tổ chức không thuộc nhóm được quy định hoặc có doanh thu năm vượt ngưỡng.
Đặc biệt, doanh nghiệp hình thành do chia, tách sau ngày Nghị quyết số 43/2026/QH16 có hiệu lực (ngày 24/8/2026), bị loại trừ nếu tổng doanh thu năm của các doanh nghiệp sau chia, tách vượt 10 tỷ đồng. Chẳng hạn, chia thành hai doanh nghiệp có doanh thu 6 tỷ đồng và 7 tỷ đồng thì không thể xét riêng từng doanh nghiệp để hưởng giảm.
Phóng viên: Chính sách giảm 30% này được tính như thế nào và người nộp thuế phải thực hiện kê khai gì, thưa ông?
Ông Đồng Minh Hồng: Chính sách được áp dụng theo nguyên tắc là lấy số thuế phải nộp thuộc diện được giảm nhân 30%; số còn phải nộp bằng 70%. Với thuế TNDN, phải tính trên số thuế sau khi đã trừ ưu đãi thuế.
Ví dụ, doanh nghiệp đủ điều kiện có số thuế sau ưu đãi là 100 triệu đồng thì được giảm 30 triệu đồng, còn 70 triệu đồng. Cá nhân kinh doanh có thuế TNCN phải nộp 20 triệu đồng thì được giảm 6 triệu đồng, còn 14 triệu đồng.
Đây là giảm số tiền thuế phải nộp, không phải giảm doanh thu hay giảm 30 điểm phần trăm thuế suất. Chính sách áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027. Phạm vi tính giảm không phân biệt phương pháp tính thuế; thuế TNCN áp dụng với toàn bộ thu nhập kinh doanh, còn thuế TNDN áp dụng theo khoản 2 Điều 3 Nghị định số 398/2026/NĐ-CP.
Đối với cá nhân kinh doanh tự khai dùng Mẫu số 01 kèm hồ sơ khai thuế quý, 6 tháng hoặc năm tương ứng trường hợp của mình. Tổ chức, cá nhân khấu trừ, khai thay, nộp thay dùng Mẫu số 02 kèm tờ khai tương ứng theo tháng, quý hoặc từng lần phát sinh. Cá nhân phải tổng hợp doanh thu thực tế của toàn bộ hoạt động kinh doanh để kiểm tra điều kiện, kể cả phần đã được khai thay.
Nếu doanh thu cá nhân vượt 10 tỷ đồng trong năm thì mất điều kiện giảm của năm đó, phải nộp bổ sung số đã được giảm và khai Mẫu số 03 cùng hồ sơ của kỳ doanh thu lũy kế vượt ngưỡng.
Khoản bổ sung do xác định lại điều kiện này không tính tiền chậm nộp đến thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ vượt ngưỡng. Đã khai nhưng chưa khai giảm thì được điều chỉnh, bổ sung hoặc xác định giảm khi quyết toán năm theo quy định.
Doanh nghiệp dự kiến doanh thu năm không quá 10 tỷ đồng được tự xác định giảm khi tạm nộp thuế TNDN hằng quý và xác định số giảm khi quyết toán năm. Ba mẫu trên phục vụ thuế TNCN.
Nếu doanh thu doanh nghiệp thực tế vượt ngưỡng thì phải nộp đủ thuế thiếu; tiền chậm nộp xử lý theo khoản 3 Điều 24 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, không áp dụng cơ chế riêng của cá nhân kinh doanh.
Phóng viên: Ông có lưu ý gì đối với người nộp thuế và cơ quan chức năng để tránh tình trạng chia nhỏ doanh thu và để chính sách thực hiện hiệu quả, đúng đối tượng?
Ông Đồng Minh Hồng: Với người nộp thuế, tôi lưu ý phải ghi nhận doanh thu đầy đủ, đúng thời điểm, đúng chủ thể giao dịch. Không trì hoãn xuất hóa đơn, che giấu doanh thu hoặc mượn tên người khác để phân tán hoạt động nhằm giữ doanh thu dưới ngưỡng. Tổ chức lại kinh doanh cần có nhu cầu thực tế và hồ sơ chứng minh. Đồng thời, nên theo dõi doanh thu lũy kế thường xuyên để điều chỉnh nghĩa vụ thuế ngay khi mất điều kiện.
Đặc biệt, quy định cộng doanh thu các doanh nghiệp sau chia, tách là biện pháp chống lợi dụng chính sách. Tuy nhiên, không mặc nhiên cộng doanh thu mọi doanh nghiệp độc lập chỉ vì chung người góp vốn hoặc địa chỉ. Cần xác định căn cứ pháp lý, bản chất giao dịch; các dấu hiệu chung địa điểm, nhân sự hay khách hàng chỉ nên dùng để lựa chọn hồ sơ rà soát.
Về phía cơ quan chức năng, cần thống nhất hướng dẫn và cập nhật hệ thống khai thuế điện tử, nhất là cách tổng hợp doanh thu, xử lý số thuế đã khai trước khi Nghị định có hiệu lực và điều chỉnh khi vượt ngưỡng. Nên có cảnh báo doanh thu lũy kế, hỗ trợ đối chiếu với tổ chức khai thay để tránh bỏ sót hoặc giảm trùng.
Ngoài ra, công tác kiểm tra cần dựa trên rủi ro, đối chiếu hóa đơn điện tử, đăng ký kinh doanh và dữ liệu được khai thác đúng pháp luật. Cần xử lý gian lận có căn cứ, đồng thời hỗ trợ người kê khai trung thực và tránh yêu cầu hồ sơ ngoài quy định. Tôi cho rằng, hiệu quả phải được đánh giá qua khả năng người đủ điều kiện tiếp cận hỗ trợ, chi phí tuân thủ và tác động thực tế đến kinh doanh.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!