![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ tại Hải quan Bắc Giang, Chi cục Hải quan khu vực V. Ảnh: Quang Hùng |
Vấn đề doanh nghiệp kiến nghị liên quan đến việc giải thích, hướng dẫn cụ thể nội hàm thuật ngữ “sản phẩm” được sử dụng tại điểm h khoản 2 Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP.
Trong đó, doanh nghiệp đề nghị làm rõ tiêu chí pháp lý để xác định một hàng hóa được coi là “sản phẩm” và thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định về sản phẩm nhập khẩu tại chỗ hay không, cũng như việc xác định hàng hóa có hay không phụ thuộc vào nguồn gốc nguyên liệu, vật tư cấu thành sản phẩm.
Đối với nội dung này, Cục Hải quan cho biết ngày 22/10/2026, Bộ Tài chính đã có Công văn số 16900/BTC-CST trả lời Công ty TNHH HaNoi Sungho Electronics và Công văn số 16901/BTC-CST trả lời Công ty TNHH Powerlogics Bá Thiện Vina về các vấn đề liên quan.
Theo đó, tại Công văn số 16900/BTC-CST, theo Bộ Tài chính Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Nghị định số 134/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 18/2021/NĐ-CP đã quy định rõ chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.
Cụ thể, khoản 6 và khoản 7 Điều 16 Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định về các trường hợp miễn thuế đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để gia công sản phẩm xuất khẩu; sản phẩm hoàn chỉnh nhập khẩu để gắn vào sản phẩm gia công; sản phẩm gia công xuất khẩu và nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
Đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, khoản 1 Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 18/2021/NĐ-CP quy định các nhóm hàng hóa được miễn thuế nhập khẩu.
Trong đó, bao gồm nguyên liệu, vật tư (kể cả vật tư làm bao bì hoặc bao bì để đóng gói sản phẩm xuất khẩu), linh kiện, bán thành phẩm nhập khẩu trực tiếp cấu thành sản phẩm xuất khẩu hoặc tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất hàng hóa xuất khẩu nhưng không trực tiếp chuyển hóa thành hàng hóa.
Ngoài ra, quy định còn áp dụng đối với sản phẩm hoàn chỉnh nhập khẩu để đóng gói, dán nhãn hoặc gắn, lắp ráp vào sản phẩm xuất khẩu hoặc đóng chung thành mặt hàng đồng bộ với sản phẩm xuất khẩu; linh kiện, phụ tùng nhập khẩu để bảo hành cho sản phẩm xuất khẩu; hàng hóa nhập khẩu chỉ sử dụng làm hàng mẫu và hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được phép tiêu hủy tại Việt Nam và thực tế đã tiêu hủy.
Đáng chú ý, đối với hàng hóa nhập khẩu được sử dụng để sản xuất sản phẩm xuất khẩu tại chỗ cho tổ chức, cá nhân trong nội địa (không nằm trong khu phi thuế quan), chính sách miễn thuế được xác định theo các quy định riêng tại điểm e, g, h khoản 2 Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.
Theo điểm e, lượng hàng hóa nhập khẩu được sử dụng để sản xuất sản phẩm xuất khẩu tại chỗ được miễn thuế nhập khẩu là lượng hàng hóa thực tế được sử dụng để sản xuất sản phẩm đã xuất khẩu tại chỗ.
Điều kiện quan trọng là người xuất khẩu tại chỗ phải thực hiện thông báo cho cơ quan Hải quan thông tin về tờ khai hải quan của sản phẩm nhập khẩu tại chỗ tương ứng đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông quan sản phẩm xuất khẩu tại chỗ theo Mẫu số 22 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định số 18/2021/NĐ-CP.
Trường hợp quá thời hạn nêu trên mà người xuất khẩu tại chỗ không thông báo cho cơ quan Hải quan, doanh nghiệp phải đăng ký tờ khai hải quan mới và kê khai, nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu đã sử dụng để sản xuất sản phẩm xuất khẩu tại chỗ theo mức thuế suất và trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu quy định tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan mới.
Sau khi nộp thuế, người xuất khẩu tại chỗ thực hiện thông báo cho cơ quan Hải quan thông tin về tờ khai hải quan của sản phẩm nhập khẩu tại chỗ tương ứng đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu. Số tiền thuế đã nộp được xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với tiền thuế nộp thừa.
Trong khi đó, điểm g khoản 2 Điều 12 quy định sản phẩm xuất khẩu tại chỗ không được miễn thuế xuất khẩu. Người xuất khẩu tại chỗ phải đăng ký tờ khai hải quan xuất khẩu tại chỗ và kê khai, nộp thuế xuất khẩu theo mức thuế suất, trị giá tính thuế của sản phẩm xuất khẩu tại chỗ tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
Đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ, điểm h khoản 2 Điều 12 quy định việc miễn thuế nhập khẩu phụ thuộc vào loại hình tờ khai hải quan.
Cụ thể, sản phẩm nhập khẩu tại chỗ đăng ký tờ khai hải quan theo loại hình nhập gia công được miễn thuế nhập khẩu nếu người nhập khẩu tại chỗ đáp ứng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 10 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.
Trường hợp sản phẩm nhập khẩu tại chỗ đăng ký tờ khai hải quan theo loại hình khác, người nhập khẩu tại chỗ phải kê khai, nộp thuế theo mức thuế suất và trị giá tính thuế của sản phẩm nhập khẩu tại chỗ tại thời điểm đăng ký tờ khai.
Đáng lưu ý, trường hợp người nhập khẩu tại chỗ đã nộp thuế nhập khẩu đối với hàng hóa để sản xuất, kinh doanh nhưng sau đó đưa sản phẩm nhập khẩu tại chỗ vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu và thực tế đã xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài hoặc vào khu phi thuế quan thì được hoàn thuế nhập khẩu đã nộp theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.
Để được miễn thuế nhập khẩu đối với sản phẩm nhập khẩu tại chỗ đăng ký theo loại hình nhập gia công, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.
Theo đó, người nộp thuế phải có hợp đồng gia công theo quy định tại Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương. Người nộp thuế kê khai số tiếp nhận hợp đồng gia công, phụ lục hợp đồng gia công trên tờ khai hải quan.
Bên cạnh đó, người nộp thuế hoặc tổ chức, cá nhân nhận gia công lại phải có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng cơ sở gia công hàng hóa xuất khẩu và máy móc, thiết bị tại cơ sở gia công trên lãnh thổ Việt Nam; đồng thời phải thực hiện thông báo cơ sở gia công, gia công lại, hợp đồng gia công, hợp đồng gia công lại và các phụ lục hợp đồng cho cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật hải quan.
Trường hợp người nộp thuế thông báo cơ sở gia công lại, hợp đồng gia công lại không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hải quan thì bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan theo quy định.
Cục Hải quan đề nghị Công ty TNHH Youngone Bắc Giang nghiên cứu hướng dẫn tại hai công văn nêu trên, đối chiếu với hồ sơ thực tế của doanh nghiệp và liên hệ cơ quan Hải quan nơi thực hiện thủ tục để được hướng dẫn.