![]() |
| Công chức Thuế cơ sở 1 tỉnh Phú Thọ tiếp nhận thủ tục hồ sơ của người nộp thuế. Ảnh: Hương Quỳnh. |
Có người chỉ khi mua ô tô, làm thủ tục nộp lệ phí trước bạ mới phát hiện mã số thuế đang vướng mắc và vội vàng tìm đến cơ quan Thuế nhờ giải quyết. Có trường hợp đã ngừng kinh doanh nhiều năm, khi làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế lại phát sinh những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ tài chính… Những tình huống ghi nhận tại Phú Thọ cho thấy, đằng sau mỗi mã số thuế tồn đọng là không ít khó khăn cần tháo gỡ.
Đơn cử, có trường hợp hộ kinh doanh đã đăng ký hoạt động từ nhiều năm trước, sau đó ngừng kinh doanh nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Sau một thời gian dài, người nộp thuế mới gửi văn bản đề nghị giải quyết thủ tục này, trong khi một số nghĩa vụ thuế phát sinh trước đó vẫn cần được rà soát, xử lý theo quy định.
Tiếp nhận đề nghị của người nộp thuế, công chức Thuế cơ sở 8 đã tiến hành rà soát thông tin, đối chiếu nghĩa vụ tài chính và thực hiện các thủ tục liên quan để giải quyết hồ sơ. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình xử lý không phải lúc nào cũng thuận lợi.
Theo ông Cao Xuân Thanh, công chức Tổ Quản lý, hỗ trợ cá nhân, hộ kinh doanh số 1 thuộc Thuế cơ sở 8 tỉnh Phú Thọ có trường hợp sau khi được thông báo đến hoàn thành nghĩa vụ tài chính, người nộp thuế không có mặt theo lịch hẹn. Công chức thuế chủ động liên hệ qua điện thoại, nhưng không nhận được phản hồi, khiến việc giải quyết hồ sơ bị gián đoạn, kéo dài.
Tình huống này phần nào cho thấy những khó khăn phát sinh trong quá trình xử lý hồ sơ mã số thuế tồn đọng. Dù cơ quan Thuế đã chủ động rà soát, hướng dẫn và thực hiện các thủ tục cần thiết, việc giải quyết vẫn đòi hỏi sự phối hợp từ phía người nộp thuế.
Ông Cao Xuân Thanh chia sẻ, trong thời gian cao điểm triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, khối lượng công việc rất lớn, công chức thuế phải làm việc cả ngày nghỉ, thậm chí có hôm phải làm đến đêm muộ để xử lý hồ sơ cho kịp tiến độ.
Thực tế, người đến cơ quan Thuế làm thủ tục liên quan đến mã số thuế có những hoàn cảnh, nhu cầu khác nhau. Có trường hợp chỉ khi phát sinh giao dịch mới biết mã số thuế của mình đang có vướng mắc, cần được cơ quan Thuế hướng dẫn xử lý.
Ông Cao Xuân Thanh thông tin thêm, có người mua ô tô, đến khi làm thủ tục nộp lệ phí trước bạ mới phát hiện mã số thuế có vướng mắc, vội vàng tìm đến cơ quan Thuế đề nghị được giải quyết ngay vì đang có việc gấp.
Với những trường hợp này, công chức thuế phải rà soát thông tin, xác định tình trạng mã số thuế và hướng dẫn người nộp thuế thực hiện các thủ tục cần thiết.
Đồng thời, luôn cố gắng hỗ trợ tối đa để người dân sớm giải quyết được công việc. Tuy nhiên, không phải hồ sơ nào cũng có thể hoàn tất ngay, nhất là những trường hợp đã ngừng kinh doanh nhiều năm, còn thiếu hồ sơ hoặc chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính.
Đằng sau mỗi mã số thuế tồn đọng là những vấn đề khác nhau. Có trường hợp chỉ cần cập nhật, bổ sung thông tin, nhưng cũng có hồ sơ phải đối chiếu dữ liệu qua nhiều thời kỳ, xác minh tình trạng hoạt động thực tế và làm rõ những khoản nghĩa vụ tài chính phát sinh từ trước.
Những tình huống tại Thuế cơ sở 8 cho thấy, làm sạch mã số thuế không đơn thuần là rà soát, cập nhật trạng thái trên hệ thống quản lý. Đây còn là quá trình giải quyết những tồn tại kéo dài, đòi hỏi cả nỗ lực của công chức thuế và sự chủ động, hợp tác của người nộp thuế.
Ngay từ giai đoạn đầu triển khai, Thuế cơ sở 8 đã phân nhóm người nộp thuế theo trạng thái mã số thuế, thành lập Ban chỉ đạo, tổ giúp việc và xây dựng kế hoạch thực hiện. Đơn vị cũng phối hợp với cơ quan công an, chính quyền các phường Vĩnh Yên và Vĩnh Phúc để rà soát, xác minh thông tin.
![]() |
| Công chức Thuế cơ sở 8 tỉnh Phú Thọ hỗ trợ người nộp thuế làm thủ tục. Ảnh: Hương Quỳnh. |
Kết quả giai đoạn đầu cho thấy, đối với nhóm tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã có mã số thuế trạng thái 03 (ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế), đơn vị đã xử lý 204/552 mã số thuế thuộc diện rà soát, đạt 37%. Đối với hộ kinh doanh, kết quả là 661/1.407 mã số thuế, đạt 47%.
Trong khi đó, kết quả xử lý nhóm trạng thái 06 (bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh) thấp hơn đáng kể. Cụ thể, đối với tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị đã xử lý 147/2.100 mã số thuế, đạt 7%; đối với hộ kinh doanh là 325/3.200 trường hợp, đạt khoảng 10%.
Sự chênh lệch giữa hai nhóm phần nào phản ánh mức độ khó khăn trong việc xử lý những trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Theo ông Nguyễn Phú Hùng, khó khăn lớn nhất hiện nay là dữ liệu người nộp thuế còn thiếu, sai lệch hoặc chưa đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Một bộ phận người nộp thuế đã thay đổi thông tin, ngừng kinh doanh hoặc khó liên hệ.
Đáng chú ý, nhiều hộ kinh doanh đăng ký từ những năm trước còn thiếu các thông tin cơ bản như số căn cước công dân, số điện thoại chính thức, hoặc địa chỉ nhận thông báo thuế.
Điều này gây trở ngại cho quá trình gửi thông báo, quyết định hành chính và mời người nộp thuế đến làm việc. Không ít hồ sơ tồn đọng qua nhiều thời kỳ gắn với số tiền nợ thuế, tiền chậm nộp tích lũy lớn. Tuy nhiên, khả năng đôn đốc thu hồi thấp do người nộp thuế đã rời khỏi địa bàn, hoặc không còn cư trú tại địa phương.
Đây cũng là nguyên nhân khiến một số hồ sơ dù đã được rà soát, phân loại nhưng chưa thể xử lý dứt điểm. Thuế cơ sở 8 đang tập trung đối chiếu, chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người nộp thuế cập nhật thông tin.
Đơn vị cũng giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, công chức, thường xuyên kiểm tra tiến độ và xác định rõ trách nhiệm trong quá trình xử lý.
Trong giai đoạn từ ngày 1/11 đến hết ngày 31/12/2026, Thuế cơ sở 8 tập trung xử lý các hồ sơ khó, hồ sơ tồn đọng kéo dài và những trường hợp có dấu hiệu rủi ro cao. Đồng thời củng cố hồ sơ, chuyển xử lý các trường hợp vi phạm nghiêm trọng theo quy định.
Tại Thuế cơ sở 1 tỉnh Phú Thọ, khối lượng hồ sơ cần rà soát, xử lý cũng rất lớn, đặc biệt đối với những trường hợp người nộp thuế đã ngừng hoạt động từ nhiều năm trước nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
![]() |
| Thiết kế: Thúy Nga, hỗ trợ bởi AI. |
Tuy nhiên, ở nhóm trạng thái 06, việc xử lý còn gặp nhiều khó khăn. Trong số 1.401 tổ chức, doanh nghiệp thuộc diện rà soát, đơn vị mới xử lý được 50 hồ sơ, tương ứng khoảng 3,6%. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh, số hồ sơ đã xử lý là 2.242/5.376 trường hợp, đạt 41,7%.
Qua quá trình rà soát, xử lý các trường hợp trạng thái 03 và 06, Thuế cơ sở 1 đã thu hồi 5,53 tỷ đồng tiền nợ thuế, tiền phạt, trong đó 2,38 tỷ đồng từ tổ chức, doanh nghiệp và 3,15 tỷ đồng từ hộ kinh doanh.
Kết quả này cho thấy chiến dịch không chỉ góp phần chuẩn hóa dữ liệu mà còn tạo điều kiện để cơ quan Thuế rà soát, xác định và xử lý những nghĩa vụ tài chính tồn đọng.
Tuy nhiên, tỷ lệ xử lý thấp ở một số nhóm cũng đặt ra vấn đề về khả năng giải quyết dứt điểm các hồ sơ đã tồn tại trong thời gian dài.
Theo ông Trần Minh Đức, Phó Trưởng Thuế cơ sở 1 tỉnh Phú Thọ, trong quá trình triển khai chiến dịch, nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã chủ động liên hệ, phối hợp với cơ quan Thuế để hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực hoặc khôi phục mã số thuế. Tuy nhiên, vẫn còn những trường hợp gặp khó khăn do thủ tục liên thông, nghĩa vụ thuế tồn đọng và việc thiếu thông tin người nộp thuế.
Có doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ lâu, nhưng khi thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế lại phát sinh vướng mắc liên quan đến hồ sơ đăng ký kinh doanh, bảo hiểm xã hội, hóa đơn hoặc nghĩa vụ tài chính chưa hoàn thành.
Đối với những trường hợp người đại diện theo pháp luật đã thay đổi nơi cư trú, doanh nghiệp không còn bộ phận kế toán hoặc không lưu giữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ, việc xác minh và hoàn thiện thủ tục càng phức tạp.
Một khó khăn khác là nguồn nhân lực trực tiếp thực hiện công tác rà soát còn mỏng so với số lượng hồ sơ phải xử lý. Trong khi đó, hồ sơ giấy, tài liệu lưu trữ từ các thời kỳ trước có trường hợp chưa đầy đủ, gây khó khăn cho việc tra cứu, đối chiếu.
Đáng chú ý, báo cáo của Thuế cơ sở 1 cho thấy đơn vị đã thực hiện chuyển 731 doanh nghiệp từ trạng thái 03, lý do 13 sang trạng thái 06, lý do 13 để phản ánh đúng tình trạng quản lý.
Điều này cho thấy một yêu cầu quan trọng trong quá trình triển khai chiến dịch: việc chuẩn hóa trạng thái mã số thuế cần được phân biệt với việc hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Một hồ sơ được cập nhật đúng trạng thái quản lý không có nghĩa là mọi nghĩa vụ, thủ tục liên quan đã được giải quyết xong.
Từ thực tế tại hai đơn vị thuế cơ sở ở Phú Thọ có thể thấy, để làm sạch dữ liệu thực chất, cơ quan Thuế phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề như xác minh tình trạng hoạt động của người nộp thuế, chuẩn hóa thông tin định danh, đối chiếu nghĩa vụ tài chính và phối hợp với các cơ quan liên quan để xử lý hồ sơ.
Trong khi đó, không phải trường hợp nào cũng có thể giải quyết bằng các quy trình nghiệp vụ thông thường, nhất là những hồ sơ tồn đọng nhiều năm, không còn đủ thông tin hoặc không thể liên hệ người nộp thuế.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách xử lý các mã số thuế tồn đọng, tạo điều kiện cho những doanh nghiệp, hộ kinh doanh thực sự đã ngừng hoạt động được hoàn tất thủ tục theo quy định, đồng thời bảo đảm việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh.
(Còn tiếp)