![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Xuất khẩu không thể chỉ dựa vào đặc sản
Lợi thế của đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước hết nằm ở những giá trị khó sao chép: nguồn nguyên liệu đặc trưng, điều kiện tự nhiên riêng biệt và tri thức bản địa được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Đây là nền tảng để tạo khác biệt cho sản phẩm khi bước vào thị trường, nhưng chưa đủ để tạo nên một sản phẩm xuất khẩu có sức cạnh tranh.
|
Chia sẻ tại Tọa đàm trực tuyến “Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Khơi dậy nguồn lực văn hóa, nâng tầm đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 27/8/2026, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, giá trị nguồn gốc, bản sắc và tri thức bản địa có thể tạo lợi thế riêng cho sản phẩm, song những giá trị này vẫn chưa được khai thác tương xứng.
Thực tế, thị trường quốc tế không chỉ quan tâm sản phẩm có gì đặc biệt, mà còn đặt ra những yêu cầu rất cụ thể về chất lượng, nguồn cung, tiêu chuẩn và khả năng giao hàng. Đây chính là khoảng cách giữa một sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu và một sản phẩm đủ năng lực xuất khẩu.
Tại nhiều vùng nguyên liệu, sản xuất vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán, phụ thuộc mùa vụ và thời tiết. Khi đơn hàng tăng, việc tập hợp nguyên liệu, duy trì sản lượng và bảo đảm chất lượng đồng đều trở thành bài toán khó. Một lô hàng không ổn định có thể làm gián đoạn đơn hàng; chất lượng thiếu nhất quán cũng khiến doanh nghiệp khó xây dựng niềm tin với đối tác quốc tế.
Vì vậy, theo chuyên gia, muốn mở rộng xuất khẩu, trước hết phải tổ chức lại sản xuất. Hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ dân cần hình thành liên kết đủ chặt từ vùng nguyên liệu đến chế biến, thống nhất quy trình và kiểm soát chất lượng. Chuẩn hóa không đồng nghĩa với xóa nhòa bản sắc. Ngược lại, khi được chuẩn hóa đúng cách, những giá trị riêng của vùng đất, cộng đồng và sản phẩm mới có thể chuyển hóa thành lợi thế thương mại lâu dài.
Cùng với chất lượng, truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu ngày càng quan trọng đối với hàng hóa xuất khẩu. Một mã QR chỉ cung cấp tên sản phẩm hoặc thông tin cơ bản về cơ sở sản xuất sẽ khó đáp ứng yêu cầu minh bạch của thị trường. Dữ liệu cần đủ để nhận diện vùng nguyên liệu, chủ thể sản xuất, quy trình, tiêu chuẩn chất lượng và hành trình của sản phẩm.
Khi đó, truy xuất không còn đơn thuần là công cụ quảng bá, mà trở thành cơ sở để doanh nghiệp chứng minh nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và tạo dựng niềm tin với đối tác, người tiêu dùng nước ngoài.
Bài toán thương hiệu cũng cần được nhìn từ góc độ xuất khẩu. Nhiều đặc sản vùng cao sở hữu câu chuyện văn hóa giàu sức hấp dẫn, nhưng chưa được chuyển hóa thành thông điệp thương hiệu rõ ràng, dễ nhận diện và phù hợp với từng thị trường. Bao bì, nhãn hàng hóa, cách kể câu chuyện về cộng đồng, vùng nguyên liệu hay tri thức bản địa đều cần được đầu tư bài bản hơn.
Nói cách khác, đặc sản có thể tạo sự khác biệt, nhưng tiêu chuẩn, chất lượng, dữ liệu và thương hiệu mới quyết định khả năng đi xa. Đây là bước chuyển cần thiết để sản phẩm vùng cao thoát khỏi quy mô tiêu thụ nhỏ lẻ, tiến tới những đơn hàng xuất khẩu ổn định và có giá trị cao hơn.
Từ giá trị bản địa đến hàng hóa quốc tế
Để đặc sản vùng cao đi xa, khoa học công nghệ và chuyển đổi số cần được đưa vào từ sản xuất, chế biến đến xây dựng thương hiệu, tiếp cận thị trường. Tại Hợp tác xã Nông sản Phú Lương (Thái Nguyên), Trà Tôm Nõn được phát triển từ kinh nghiệm làm chè của người Tày, kết hợp kỹ thuật hiện đại, chế biến sâu và kiểm soát chất lượng. Những giá trị về vùng đất, văn hóa, hát Then, đàn Tính được tích hợp vào thương hiệu, tạo dấu ấn riêng cho sản phẩm.
Tuy nhiên, để xuất khẩu ổn định, câu chuyện bản địa phải đi cùng năng lực cung ứng. Yêu cầu về tiêu chuẩn, bao bì, truy xuất và chất lượng cần được tính ngay từ khâu sản xuất, thay vì chờ đến khi có đơn hàng mới hoàn thiện. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân được hỗ trợ về công nghệ, thiết bị, kỹ thuật và tổ chức sản xuất.
Logistics cũng là điểm nghẽn đáng lưu ý khi vùng nguyên liệu xa trung tâm, sản lượng nhỏ, hệ thống thu gom, bảo quản và trung chuyển còn hạn chế. Vì vậy, xuất khẩu cần được tổ chức theo chuỗi, kết nối từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến, tiêu chuẩn, truy xuất, thương hiệu đến logistics và phân phối quốc tế.
Quan trọng hơn, xuất khẩu phải giúp gia tăng phần giá trị được giữ lại tại cộng đồng. Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, khoảng cách lớn hiện nay nằm giữa giá trị văn hóa cộng đồng nắm giữ và giá trị kinh tế thị trường có thể tạo ra.
Theo đó, 4 nguyên tắc được các chuyên gia nhấn mạnh, đó là cộng đồng phải là chủ thể, phát triển nhưng không làm mất bản sắc, bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi và chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị.
Đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số vì thế cần một cách tiếp cận khác: không bắt đầu bằng việc tìm thị trường nước ngoài, mà bắt đầu bằng việc nâng chất lượng bên trong.
Cánh cửa xuất khẩu không bắt đầu từ thị trường nước ngoài, mà từ việc nâng chất lượng bên trong. Khi sản phẩm có chất lượng ổn định, nguồn gốc minh bạch, thương hiệu rõ ràng và năng lực cung ứng, bản sắc văn hóa mới có thể trở thành lợi thế cạnh tranh, giúp đặc sản vùng cao đi xa và tạo thêm giá trị ngay tại nơi sản phẩm được sinh ra.