Thứ bảy 24/10/2026 03:49
Thời tiết: Hà Nội 27°C
Đà Nẵng 24°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 27°C
TP Hồ Chí Minh 25°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Mở cửa xuất khẩu số cho hàng hóa biên giới, miền núi

Thái Hằng (Thực hiện)
Kế hoạch tổng thể ứng dụng thương mại điện tử (TMĐT) tại khu vực biên giới, miền núi giai đoạn 2027 - 2030 (gọi tắt Kế hoạch) được kỳ vọng mở thêm cánh cửa đưa hàng hóa địa phương ra thị trường quốc tế qua môi trường số. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành dòng hàng xuất khẩu thực tế, theo chuyên gia, ThS. Nguyễn Hải Khanh, Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, cần phát triển đồng bộ TMĐT với logistics, liên kết vùng, thanh toán, truy xuất nguồn gốc và TMĐT xuyên biên giới.
Mở cửa xuất khẩu số cho hàng hóa biên giới, miền núi
Ảnh minh họa có sợ hỗ trợ bởi AI.

Phóng viên: Kế hoạch đặt mục tiêu đưa ít nhất 70% sản phẩm của các hộ sản xuất, kinh doanh lên môi trường số. Từ góc độ thực tiễn, bà nhìn nhận thế nào về ý nghĩa của mục tiêu này đối với mở rộng thị trường, đặc biệt là tạo nền tảng để hàng hóa địa phương tiếp cận thị trường quốc tế?

ThS. Nguyễn Hải Khanh: Điểm đáng chú ý của Kế hoạch là TMĐT được nhìn nhận như một mắt xích của cả chuỗi đưa hàng hóa ra thị trường, thay vì chỉ là một kênh bán hàng. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với khu vực biên giới, miền núi, nơi khoảng cách địa lý, quy mô sản xuất nhỏ và hạn chế về thị trường vẫn là những rào cản lớn.

Mở cửa xuất khẩu số cho hàng hóa biên giới, miền núi

Sức mạnh nằm ở khả năng kết nối các điểm hỗ trợ với doanh nghiệp bưu chính, logistics, thanh toán và nền tảng TMĐT. Số hóa giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng nhưng logistics quyết định sản phẩm có thực sự đến được tay khách hàng với chi phí và chất lượng phù hợp hay không. Đây cũng là nền tảng để hàng hóa địa phương từng bước tham gia TMĐT xuyên biên giới.

ThS. Nguyễn Hải Khanh

Các mục tiêu như hỗ trợ số hóa ít nhất 70% sản phẩm, tối thiểu 50% chủ thể sản xuất, kinh doanh ứng dụng công cụ TMĐT và 60% chủ thể bán hàng trực tuyến cho thấy người sản xuất là trung tâm của quá trình số hóa. Đưa sản phẩm lên mạng chỉ là bước đầu; muốn bán được hàng còn cần thanh toán, đóng gói, gom hàng, bảo quản, vận chuyển và truy xuất nguồn gốc.

Với TMĐT xuyên biên giới, yêu cầu càng cao hơn khi sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, có nguồn gốc rõ ràng và logistics phù hợp. Vì vậy, theo tôi, giá trị của Kế hoạch nằm ở việc kết nối đồng bộ các mắt xích, đồng thời thiết kế giải pháp phù hợp với từng địa bàn, nhóm sản phẩm và mùa vụ. Khi đó, số hóa mới thực sự tạo ra đơn hàng, mở rộng thị trường và mở đường cho xuất khẩu trực tuyến.

Phóng viên: Một nội dung được nhấn mạnh trong Kế hoạch là logistics TMĐT. Vì sao khâu này cần được đặt ngay trong chuỗi phát triển TMĐT vùng biên, thưa bà?

ThS. Nguyễn Hải Khanh: Một đơn hàng thành công không dừng ở việc khách hàng bấm đặt mua. Phía sau là cả chuỗi gom hàng, đóng gói, bảo quản, lưu kho, vận chuyển và giao nhận. Chỉ một mắt xích yếu cũng có thể làm tăng chi phí, giảm chất lượng và thu hẹp khả năng mở rộng thị trường.

Vì vậy, tôi đánh giá việc Kế hoạch phát triển mạng lưới điểm hỗ trợ TMĐT, gồm điểm gom hàng, đóng gói, kho vận, kho lạnh và trung tâm dịch vụ, là hướng đi phù hợp với khu vực biên giới, miền núi. Quan trọng là không áp một mô hình logistics cho mọi nơi, mà cần căn cứ địa hình, sản lượng, đặc điểm hàng hóa và mùa vụ để lựa chọn mô hình phù hợp.

Sức mạnh nằm ở khả năng kết nối các điểm hỗ trợ với doanh nghiệp bưu chính, logistics, thanh toán và nền tảng TMĐT. Số hóa giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng nhưng logistics quyết định sản phẩm có thực sự đến được tay khách hàng với chi phí và chất lượng phù hợp hay không. Đây cũng là nền tảng để hàng hóa địa phương từng bước tham gia TMĐT xuyên biên giới.

Phóng viên: Kế hoạch cũng xác định các cụm liên kết vùng và dành một nhóm nhiệm vụ cho TMĐT xuyên biên giới. Theo bà, đâu là ý nghĩa của việc chuyển từ bán hàng trong nước sang mở rộng kênh xuất khẩu số?

ThS. Nguyễn Hải Khanh: Liên kết vùng giúp giải bài toán thị trường theo một cách rộng hơn. Kế hoạch xác định 5 cụm liên kết, gồm cụm trung du, miền núi phía Bắc và hành lang cửa khẩu phía Bắc; cụm Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và hành lang Đông - Tây; cụm Tây Nguyên - Nam Trung Bộ; cụm Đông Nam Bộ và hành lang biên giới Tây Nam; cụm Đồng bằng sông Cửu Long và chuỗi nông - thủy sản.

Nổi bật là liên kết không chỉ nhằm tiêu thụ sản phẩm. Kế hoạch đặt các nội dung như logistics, truy xuất nguồn gốc, thanh toán, nền tảng TMĐT và kết nối thị trường trong cùng một chuỗi.

Với TMĐT xuyên biên giới, hướng đi được xác định là gắn sản phẩm đặc trưng với quảng bá du lịch, văn hóa và hình ảnh địa phương tại các thị trường quốc tế. Những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nước ngoài được ưu tiên kết nối với các kênh xuất khẩu trực tuyến.

Cùng với đó là định hướng hình thành các điểm kết nối, trung chuyển sản phẩm và TMĐT xuyên biên giới gắn với cửa khẩu, trung tâm logistics, điểm tập kết hàng hóa và hạ tầng thương mại biên giới. Đây là điểm rất quan trọng bởi giao dịch số cuối cùng vẫn phải gắn với dòng hàng hóa thực tế.

Phóng viên: Để xuất khẩu số không dừng ở việc đưa sản phẩm lên nền tảng, Kế hoạch cũng đặt ra những yêu cầu về năng lực của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh?

ThS. Nguyễn Hải Khanh: Năng lực của chủ thể sản xuất, kinh doanh là một điều kiện then chốt. Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% chủ thể sản xuất, kinh doanh đăng ký tham gia được hướng dẫn, tập huấn kỹ năng phát triển TMĐT và quản lý, vận hành mô hình theo quy định. Ít nhất 90% chủ thể được hỗ trợ kiến thức, kỹ năng, công cụ và phương thức đào tạo phù hợp với đặc thù địa bàn.

Nội dung hỗ trợ cũng không chỉ là cách mở gian hàng hay đăng sản phẩm. Chủ thể cần được hỗ trợ từ số hóa sản phẩm, xây dựng thông tin và hình ảnh, giới thiệu sản phẩm, truy xuất nguồn gốc đến tiêu chuẩn quốc tế, quy cách đóng gói, năng lực cung ứng, phương án bán hàng và vận chuyển.

Đây là phần việc rất thực tế. Một sản phẩm muốn đi vào thị trường quốc tế phải đáp ứng nhiều yêu cầu hơn việc có một hình ảnh đẹp trên nền tảng số. Chất lượng, nguồn gốc, bao bì, nhãn hàng hóa và khả năng cung ứng đều cần được quan tâm.

Kế hoạch đồng thời đặt mục tiêu ít nhất 30.000 người tiêu dùng được trang bị kiến thức, kỹ năng TMĐT an toàn tại khu vực biên giới, miền núi. Điều đó cho thấy phát triển TMĐT phải đi cùng nâng cao năng lực của cả người bán và người mua.

Phóng viên: Theo bà, cần tập trung vào những giải pháp nào để kế hoạch tạo được một chuỗi hỗ trợ đồng bộ, nhất là ở logistics, xuất khẩu số và TMĐT xuyên biên giới?

ThS. Nguyễn Hải Khanh: Theo tôi, trước hết cần bảo đảm sự phối hợp giữa các mắt xích. Kế hoạch đã xác định Bộ Công Thương chủ trì, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bưu chính, logistics, nền tảng TMĐT và các chủ thể liên quan phối hợp. Đây là một cấu trúc phối hợp cần được triển khai theo từng nhóm nhiệm vụ cụ thể.

Với logistics, cần gắn điểm gom hàng, đóng gói, kho vệ tinh, kho lạnh với vùng sản xuất và các tuyến vận chuyển phù hợp. Với xuất khẩu số, cần quan tâm đồng thời đến nền tảng TMĐT, thanh toán, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn hàng hóa và kết nối cửa khẩu.

Đối với TMĐT xuyên biên giới, một nhiệm vụ đáng chú ý là nghiên cứu chính sách, quy định và mô hình quản lý của các quốc gia có chung đường biên giới; đồng thời nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, trung tâm logistics, điểm tập kết hàng hóa, thanh toán xuyên biên giới và nền tảng TMĐT.

Cùng với đó, cần chú trọng TMĐT xanh, bền vững, nhất là yêu cầu về chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhãn hàng hóa và bảo vệ môi trường.

Khi các mắt xích được đặt trong cùng một chuỗi, TMĐT mới có điều kiện trở thành một phương thức đưa hàng hóa vùng biên tiếp cận thị trường rộng hơn.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!

Mở cửa xuất khẩu số cho hàng hóa biên giới, miền núi

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu cho ngành dệt may

Chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 35,72 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ, song tăng trưởng giữa các nhóm hàng còn phân hóa. Trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, đơn hàng chưa đồng đều và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, nâng năng suất, chủ động nguồn cung và cải thiện hiệu quả sản xuất là những điều kiện quan trọng để ngành dệt may duy trì đà tăng trưởng. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), phân tích sâu hơn về triển vọng cuối năm, nâng nội lực để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Nhập khẩu tăng mạnh có thể cán mốc 600 tỷ USD

Đến ngày 15/10/2026, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 481,37 tỷ USD, tăng 37,2% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực đến từ máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, cùng máy móc, thiết bị và nhiều nhóm nguyên liệu. Đà tăng này mở ra khả năng nhập khẩu cả năm vượt 600 tỷ USD, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và giá trị gia tăng trong nước.
Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Phòng vệ thương mại quý III/2026: Giữ thị trường bằng năng lực ứng phó

Các vụ điều tra mới, rà soát và áp thuế phòng vệ thương mại trong quý III/2026 tiếp tục đặt doanh nghiệp xuất khẩu hàng Việt Nam trước yêu cầu nâng cao năng lực ứng phó. Đồng thời, việc sử dụng công cụ phòng vệ tại thị trường nội địa cho thấy bảo vệ sản xuất phải gắn với hồ sơ đầy đủ, dữ liệu minh bạch và khả năng cạnh tranh thực chất.
Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Đa dạng kênh phân phối, tạo đà cho hàng Việt vươn xa

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, phát triển thị trường đa kênh trở thành yêu cầu cấp thiết với doanh nghiệp Việt Nam. Hội thảo do Cục Xúc tiến Thương mại tổ chức tạo diễn đàn trao đổi giải pháp, kết nối nguồn lực, củng cố đầu ra, giúp hàng hóa Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu tăng giữa áp lực giảm giá

Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam duy trì đà tăng trưởng nhờ lượng hàng xuất khẩu gia tăng, trong khi giá bình quân vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước. Áp lực giảm giá đặt ra yêu cầu nâng chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu và mở rộng thị trường để giữ đà tăng trưởng, cải thiện giá trị xuất khẩu.
Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Bài 3: Làm gì để kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD

Trong chặng nước rút hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xuất khẩu cần chuyển từ tăng trưởng về quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, logistics, thị trường, đồng thời củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước và gia tăng giá trị nội địa là yêu cầu then chốt để xuất khẩu bứt tốc, đóng góp bền vững cho nền kinh tế.
Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Nhập khẩu ô tô vượt 203.000 chiếc, nguồn cung chủ lực có sự dịch chuyển

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, Việt Nam nhập khẩu 203.600 ô tô nguyên chiếc, kim ngạch gần 4,7 tỷ USD, tăng 24,5% về lượng và 29,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, thị trường Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai về số lượng và giữ ưu thế về kim ngạch.
Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam còn lớn

Dư địa xuất khẩu cơ khí của Việt Nam hiện nay còn lớn, nhưng khả năng khai thác phụ thuộc vào năng lực cung ứng sản phẩm đạt chuẩn và đáp ứng yêu cầu xanh. Làm chủ vật liệu, liên kết sản xuất và xây dựng dữ liệu phát thải đang trở thành những nhiệm vụ gắn trực tiếp với sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cơ khí trên thị trường quốc tế.
Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Ngành dệt may tăng tốc chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trước sức ép cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết với ngành dệt may Việt Nam, Hội thảo của VITAS tại HanoiTex - HanoiFabric 2026 gợi mở giải pháp từ đổi mới công nghệ đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh, giúp doanh nghiệp nâng năng suất, thích ứng thị trường và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.
Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Thương mại Việt Nam - Singapore chạm mốc 33,5 tỷ USD

Chín tháng năm 2026, thương mại hai chiều Việt Nam - Singapore đạt gần 42,8 tỷ SGD (tương đương khoảng 33,5 tỷ USD), tăng 46,8% so với cùng kỳ. Đà tăng trưởng cho thấy giao thương giữa hai nước tiếp tục mở rộng, đồng thời tạo thêm cơ hội để hàng hóa Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối khu vực.
Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thương mại điện tử Đông Nam Á vượt 200 tỷ USD, hàng Việt đón sóng lớn

Thị trường thương mại điện tử (TMĐT) Đông Nam Á đang mở rộng, với doanh số vượt 200 tỷ USD và dòng chi tiêu hàng ngoại lên tới 23-24 tỷ USD. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, đây là cơ hội để mở rộng kênh bán hàng và tiếp cận người tiêu dùng khu vực. Khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào việc lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì chất lượng sản phẩm.
Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Bài 2: Nhập siêu tăng mạnh và bài toán nâng giá trị gia tăng nội địa

Sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9/2026 đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD. Đây là tín hiệu tích cực trong chặng nước rút cuối năm, song chưa làm thay đổi hoàn toàn bức tranh thương mại khi tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD và nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xuất khẩu. Vấn đề cần quan tâm không chỉ là trạng thái của cán cân thương mại, mà còn là khả năng chuyển hóa dòng hàng đầu vào phục vụ sản xuất và yêu cầu về nâng cao năng lực cung ứng nội địa để đạt được giá trị gia tăng cao hơn.
Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp cơ khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Chuyển đổi xanh không còn là xu hướng khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp cơ khí - điện, khi các tiêu chuẩn về môi trường, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng khắt khe.
Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Xuất khẩu sang Singapore theo quy trình chứng nhận nhập khẩu mới

Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng trưởng mạnh, việc Hải quan Singapore cập nhật quy trình Chứng nhận nhập khẩu và Xác minh giao hàng (ICDV) đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chủ động kiểm soát chứng từ, phối hợp với đối tác và tuân thủ thời hạn xử lý hồ sơ. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ chậm thông quan, phát sinh chi phí và bảo đảm hoạt động xuất khẩu thông suốt.
Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Bài 1: Xuất khẩu bứt phá trong một thế giới đầy biến động

Năm 2026, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xuất khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Sau ba phần tư chặng đường, đà tăng trưởng thương mại tạo tiền đề cho những tháng cuối năm, đồng thời đặt ra yêu cầu nhìn nhận thấu đáo chất lượng tăng trưởng và khả năng đóng góp của xuất khẩu đối với nền kinh tế. Bước vào chặng nước rút, việc phát huy lợi thế các ngành hàng chủ lực, khai thác dư địa thị trường và tháo gỡ điểm nghẽn cần gắn với nâng cao năng lực sản xuất trong nước, gia tăng giá trị hàng hóa và chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường quốc tế; qua đó tạo cơ sở để chuyển hóa đà tăng trưởng thương mại thành nguồn lực củng cố nội lực và sức tự chủ của nền kinh tế.

Đọc nhiều

quy-dinh-ve-dang-bai-gioi-thieu-cong-bo-ket-qua-nghien-cuu-tren-tap-chi-kinh-te-tai-chinh
vietnam-post-avinh-13-10-13-11
toan-phat-group-2026
cty-cp-dai-phuc
acca-dung-24-10-30-11
tap-doan-than-khoang-san
agribank
phan-mem-ecus5
thong-bao
cong-ty-tnhh-thuong-mai-va-dich-vu-eco-patuo-viet-nam
chi-lan-viettel-2-tuan-22-10-6-11
qc-demo-3
qc-demo-4
qc-demo