![]() |
| Ảnh minh họa có sợ hỗ trợ bởi AI. |
Phóng viên: Kế hoạch đặt mục tiêu đưa ít nhất 70% sản phẩm của các hộ sản xuất, kinh doanh lên môi trường số. Từ góc độ thực tiễn, bà nhìn nhận thế nào về ý nghĩa của mục tiêu này đối với mở rộng thị trường, đặc biệt là tạo nền tảng để hàng hóa địa phương tiếp cận thị trường quốc tế?
ThS. Nguyễn Hải Khanh: Điểm đáng chú ý của Kế hoạch là TMĐT được nhìn nhận như một mắt xích của cả chuỗi đưa hàng hóa ra thị trường, thay vì chỉ là một kênh bán hàng. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với khu vực biên giới, miền núi, nơi khoảng cách địa lý, quy mô sản xuất nhỏ và hạn chế về thị trường vẫn là những rào cản lớn.
|
Các mục tiêu như hỗ trợ số hóa ít nhất 70% sản phẩm, tối thiểu 50% chủ thể sản xuất, kinh doanh ứng dụng công cụ TMĐT và 60% chủ thể bán hàng trực tuyến cho thấy người sản xuất là trung tâm của quá trình số hóa. Đưa sản phẩm lên mạng chỉ là bước đầu; muốn bán được hàng còn cần thanh toán, đóng gói, gom hàng, bảo quản, vận chuyển và truy xuất nguồn gốc.
Với TMĐT xuyên biên giới, yêu cầu càng cao hơn khi sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, có nguồn gốc rõ ràng và logistics phù hợp. Vì vậy, theo tôi, giá trị của Kế hoạch nằm ở việc kết nối đồng bộ các mắt xích, đồng thời thiết kế giải pháp phù hợp với từng địa bàn, nhóm sản phẩm và mùa vụ. Khi đó, số hóa mới thực sự tạo ra đơn hàng, mở rộng thị trường và mở đường cho xuất khẩu trực tuyến.
Phóng viên: Một nội dung được nhấn mạnh trong Kế hoạch là logistics TMĐT. Vì sao khâu này cần được đặt ngay trong chuỗi phát triển TMĐT vùng biên, thưa bà?
ThS. Nguyễn Hải Khanh: Một đơn hàng thành công không dừng ở việc khách hàng bấm đặt mua. Phía sau là cả chuỗi gom hàng, đóng gói, bảo quản, lưu kho, vận chuyển và giao nhận. Chỉ một mắt xích yếu cũng có thể làm tăng chi phí, giảm chất lượng và thu hẹp khả năng mở rộng thị trường.
Vì vậy, tôi đánh giá việc Kế hoạch phát triển mạng lưới điểm hỗ trợ TMĐT, gồm điểm gom hàng, đóng gói, kho vận, kho lạnh và trung tâm dịch vụ, là hướng đi phù hợp với khu vực biên giới, miền núi. Quan trọng là không áp một mô hình logistics cho mọi nơi, mà cần căn cứ địa hình, sản lượng, đặc điểm hàng hóa và mùa vụ để lựa chọn mô hình phù hợp.
Sức mạnh nằm ở khả năng kết nối các điểm hỗ trợ với doanh nghiệp bưu chính, logistics, thanh toán và nền tảng TMĐT. Số hóa giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng nhưng logistics quyết định sản phẩm có thực sự đến được tay khách hàng với chi phí và chất lượng phù hợp hay không. Đây cũng là nền tảng để hàng hóa địa phương từng bước tham gia TMĐT xuyên biên giới.
Phóng viên: Kế hoạch cũng xác định các cụm liên kết vùng và dành một nhóm nhiệm vụ cho TMĐT xuyên biên giới. Theo bà, đâu là ý nghĩa của việc chuyển từ bán hàng trong nước sang mở rộng kênh xuất khẩu số?
ThS. Nguyễn Hải Khanh: Liên kết vùng giúp giải bài toán thị trường theo một cách rộng hơn. Kế hoạch xác định 5 cụm liên kết, gồm cụm trung du, miền núi phía Bắc và hành lang cửa khẩu phía Bắc; cụm Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và hành lang Đông - Tây; cụm Tây Nguyên - Nam Trung Bộ; cụm Đông Nam Bộ và hành lang biên giới Tây Nam; cụm Đồng bằng sông Cửu Long và chuỗi nông - thủy sản.
Nổi bật là liên kết không chỉ nhằm tiêu thụ sản phẩm. Kế hoạch đặt các nội dung như logistics, truy xuất nguồn gốc, thanh toán, nền tảng TMĐT và kết nối thị trường trong cùng một chuỗi.
Với TMĐT xuyên biên giới, hướng đi được xác định là gắn sản phẩm đặc trưng với quảng bá du lịch, văn hóa và hình ảnh địa phương tại các thị trường quốc tế. Những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nước ngoài được ưu tiên kết nối với các kênh xuất khẩu trực tuyến.
Cùng với đó là định hướng hình thành các điểm kết nối, trung chuyển sản phẩm và TMĐT xuyên biên giới gắn với cửa khẩu, trung tâm logistics, điểm tập kết hàng hóa và hạ tầng thương mại biên giới. Đây là điểm rất quan trọng bởi giao dịch số cuối cùng vẫn phải gắn với dòng hàng hóa thực tế.
Phóng viên: Để xuất khẩu số không dừng ở việc đưa sản phẩm lên nền tảng, Kế hoạch cũng đặt ra những yêu cầu về năng lực của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh?
ThS. Nguyễn Hải Khanh: Năng lực của chủ thể sản xuất, kinh doanh là một điều kiện then chốt. Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% chủ thể sản xuất, kinh doanh đăng ký tham gia được hướng dẫn, tập huấn kỹ năng phát triển TMĐT và quản lý, vận hành mô hình theo quy định. Ít nhất 90% chủ thể được hỗ trợ kiến thức, kỹ năng, công cụ và phương thức đào tạo phù hợp với đặc thù địa bàn.
Nội dung hỗ trợ cũng không chỉ là cách mở gian hàng hay đăng sản phẩm. Chủ thể cần được hỗ trợ từ số hóa sản phẩm, xây dựng thông tin và hình ảnh, giới thiệu sản phẩm, truy xuất nguồn gốc đến tiêu chuẩn quốc tế, quy cách đóng gói, năng lực cung ứng, phương án bán hàng và vận chuyển.
Đây là phần việc rất thực tế. Một sản phẩm muốn đi vào thị trường quốc tế phải đáp ứng nhiều yêu cầu hơn việc có một hình ảnh đẹp trên nền tảng số. Chất lượng, nguồn gốc, bao bì, nhãn hàng hóa và khả năng cung ứng đều cần được quan tâm.
Kế hoạch đồng thời đặt mục tiêu ít nhất 30.000 người tiêu dùng được trang bị kiến thức, kỹ năng TMĐT an toàn tại khu vực biên giới, miền núi. Điều đó cho thấy phát triển TMĐT phải đi cùng nâng cao năng lực của cả người bán và người mua.
Phóng viên: Theo bà, cần tập trung vào những giải pháp nào để kế hoạch tạo được một chuỗi hỗ trợ đồng bộ, nhất là ở logistics, xuất khẩu số và TMĐT xuyên biên giới?
ThS. Nguyễn Hải Khanh: Theo tôi, trước hết cần bảo đảm sự phối hợp giữa các mắt xích. Kế hoạch đã xác định Bộ Công Thương chủ trì, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bưu chính, logistics, nền tảng TMĐT và các chủ thể liên quan phối hợp. Đây là một cấu trúc phối hợp cần được triển khai theo từng nhóm nhiệm vụ cụ thể.
Với logistics, cần gắn điểm gom hàng, đóng gói, kho vệ tinh, kho lạnh với vùng sản xuất và các tuyến vận chuyển phù hợp. Với xuất khẩu số, cần quan tâm đồng thời đến nền tảng TMĐT, thanh toán, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn hàng hóa và kết nối cửa khẩu.
Đối với TMĐT xuyên biên giới, một nhiệm vụ đáng chú ý là nghiên cứu chính sách, quy định và mô hình quản lý của các quốc gia có chung đường biên giới; đồng thời nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, trung tâm logistics, điểm tập kết hàng hóa, thanh toán xuyên biên giới và nền tảng TMĐT.
Cùng với đó, cần chú trọng TMĐT xanh, bền vững, nhất là yêu cầu về chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhãn hàng hóa và bảo vệ môi trường.
Khi các mắt xích được đặt trong cùng một chuỗi, TMĐT mới có điều kiện trở thành một phương thức đưa hàng hóa vùng biên tiếp cận thị trường rộng hơn.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn bà!
![]() |