![]() |
| Nếu không kiểm soát hiệu quả tình trạng hàng giả, hàng nhái và các hành vi xâm phạm quyền SHTT, doanh nghiệp Việt sẽ rất khó xây dựng niềm tin bền vững với người tiêu dùng quốc tế. Ảnh minh họa. |
Phóng viên: Với việc ban hành Công điện số 38/CĐ-TTg, Chính phủ đang đặt ra yêu cầu gì đối với việc thực thi quyền SHTT trong nền kinh tế số, thưa ông?
Luật sư Lê Bá Thường: Theo tôi, đây không chỉ là một đợt cao điểm nhằm xử lý các hành vi vi phạm. Quan trọng hơn, Chính phủ đang phát đi thông điệp rõ ràng về việc nâng cao tiêu chuẩn thực thi quyền SHTT trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ.
Hiện nay, hoạt động kinh doanh đã chuyển dịch nhanh sang môi trường trực tuyến. Doanh nghiệp không chỉ tiêu thụ sản phẩm trong nước mà còn mở rộng xuất khẩu thông qua các sàn TMĐT, nền tảng xuyên biên giới, mạng xã hội hay hình thức livestream bán hàng. Đây là cơ hội lớn để doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, chủ thể OCOP và các sản phẩm đặc sản địa phương tiếp cận thị trường toàn cầu với chi phí thấp hơn đáng kể so với trước đây.
Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm thách thức. Một sản phẩm vừa tạo dựng được uy tín trên thị trường có thể ngay lập tức bị làm giả, mạo danh thương hiệu hoặc giả mạo xuất xứ trên không gian mạng. Chỉ cần một số tài khoản sử dụng bao bì nhái, logo giả hoặc quảng bá sai lệch về nguồn gốc sản phẩm lan truyền trên các nền tảng số, niềm tin của người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Điểm đáng chú ý của Công điện số 38/CĐ-TTg, theo tôi, không chỉ nằm ở yêu cầu tăng cường xử lý vi phạm mà còn ở định hướng bảo vệ tài sản cạnh tranh của doanh nghiệp Việt trong môi trường kinh doanh số. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu số, bởi khi hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế thông qua thương mại điện tử, thương hiệu và uy tín chính là “tấm hộ chiếu” để khẳng định vị thế.
Nếu không kiểm soát hiệu quả tình trạng hàng giả, hàng nhái và các hành vi xâm phạm quyền SHTT, doanh nghiệp sẽ rất khó xây dựng niềm tin bền vững với người tiêu dùng quốc tế.
Phóng viên: Trong thực tế, nhiều người vẫn gọi chung mọi vi phạm là “hàng giả”. Theo ông, việc phân loại đúng hành vi vi phạm có ý nghĩa như thế nào đối với hoạt động thực thi pháp luật và bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu số?
Luật sư Lê Bá Thường: Đây là vấn đề rất quan trọng nhưng thường bị bỏ qua.
Trong thực tế, pháp luật không xử lý mọi hành vi theo cùng một cách. Có hàng giả về chất lượng, công dụng, thành phần; có hàng giả về nhãn hàng hóa, bao bì, nguồn gốc xuất xứ; có hành vi giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý; và cũng có trường hợp chỉ là dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn trong sở hữu công nghiệp.
Việc xác định đúng bản chất vi phạm sẽ quyết định cách xử lý của cơ quan chức năng.
Ví dụ, nếu là thực phẩm chức năng giả, vấn đề trọng tâm là chất lượng, công dụng và an toàn người tiêu dùng. Nhưng với hành vi giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý thì trọng tâm lại là việc đánh lừa người tiêu dùng và chiếm đoạt uy tín thương hiệu.
Trong môi trường TMĐT, sự phân biệt này càng quan trọng hơn. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đang xuất khẩu hàng qua nền tảng số. Có trường hợp sản phẩm bị sao chép hình ảnh, sử dụng trái phép nhãn hiệu hoặc gắn địa danh nổi tiếng để bán hàng. Nếu không phân loại đúng, rất dễ dẫn tới xử lý thiếu chính xác hoặc gây khó khăn cho doanh nghiệp chân chính.
Tôi nhớ câu chuyện liên quan đến chỉ dẫn địa lý Phú Quốc từng gây nhiều chú ý. Đây là ví dụ điển hình cho thấy xâm phạm chỉ dẫn địa lý không chỉ ảnh hưởng đến một doanh nghiệp mà còn tác động tới uy tín cả vùng sản xuất.
Đối với xuất khẩu số, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể hay sản phẩm OCOP chính là lợi thế cạnh tranh rất lớn của Việt Nam. Nếu không bảo vệ tốt trên môi trường mạng thì giá trị này có thể bị xói mòn rất nhanh.
![]() |
| Tiến sĩ, Luật sư Lê Bá Thường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật và Văn hoá Doanh nghiệp. |
Phóng viên: Luật TMĐT có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó bổ sung nhiều quy định mới, hướng tới xây dựng hệ sinh thái TMĐT minh bạch, công bằng và an toàn hơn. Theo ông, các quy định này sẽ tác động thế nào tới doanh nghiệp và hoạt động xuất khẩu qua TMĐT?
Luật sư Lê Bá Thường: Hiện nay, phần lớn hoạt động kinh doanh số đều diễn ra trên sàn TMĐT hoặc mạng xã hội. Nếu nền tảng chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần thì việc xử lý hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT sẽ rất khó hiệu quả.
Yêu cầu kiểm duyệt thông tin hàng hóa trước khi hiển thị, xác thực người bán, lưu trữ dữ liệu giao dịch hay gỡ bỏ vi phạm trong thời gian ngắn sẽ giúp quá trình kiểm soát của cơ quan chức năng chủ động hơn.
Điều này có thể khiến các sàn phải đầu tư thêm chi phí công nghệ và quy trình vận hành nhưng ở góc độ dài hạn, tôi nghĩ đây lại là yếu tố tích cực cho môi trường xuất khẩu số.
Một doanh nghiệp nhỏ muốn bán hàng sang thị trường quốc tế qua TMĐT rất cần một môi trường giao dịch minh bạch và đáng tin cậy. Nếu sàn có cơ chế xác thực tốt, kiểm soát được hàng giả và xử lý nhanh vi phạm thì doanh nghiệp chân chính sẽ được bảo vệ tốt hơn.
Tôi đặc biệt quan tâm đến nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là nhóm có nhiều tiềm năng xuất khẩu số nhưng cũng dễ tổn thương nhất khi bị giả mạo thương hiệu trên môi trường mạng.
Vì vậy, ngoài yêu cầu quản lý với nền tảng, Nhà nước cũng cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đăng ký bảo hộ, xây dựng dữ liệu nhận diện hàng thật, hỗ trợ xử lý vi phạm trên sàn TMĐT và tư vấn pháp lý khi xảy ra tranh chấp.
Nếu chỉ xử lý vi phạm mà thiếu cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp thì hiệu quả sẽ khó bền vững.
Phóng viên: Khó khăn lớn nhất đối với công tác bảo vệ quyền SHTT trên không gian số, đặc biệt với hoạt động xuất khẩu trực tuyến là gì, thưa ông?
Luật sư Lê Bá Thường: Khó khăn lớn nhất là tốc độ lan truyền của vi phạm nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ xử lý.
Trong môi trường internet, một livestream bán hàng giả có thể tiếp cận hàng triệu người chỉ trong vài giờ. Một tài khoản vi phạm bị khóa thì hôm sau có thể xuất hiện tài khoản khác. Nhiều đối tượng sử dụng máy chủ ở nước ngoài, ẩn danh hoặc vận hành xuyên biên giới khiến việc xác minh và thu thập chứng cứ rất khó khăn.
Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu nguồn lực pháp lý, thiếu công cụ công nghệ để tự bảo vệ mình.
Thực tế hiện nay cho thấy, chống hàng giả trên không gian mạng không thể chỉ dừng ở việc xử lý người bán cuối cùng. Cần lần theo cả chuỗi, từ nguồn hàng, kho hàng, quảng cáo, giao hàng cho tới dòng tiền và tài khoản liên quan.
Tôi cho rằng, trong giai đoạn tới, việc phối hợp giữa Luật SHTT với pháp luật về TMĐT, dữ liệu và an toàn mạng sẽ ngày càng quan trọng.
Bởi xuất khẩu số không chỉ là câu chuyện bán được hàng ra nước ngoài. Quan trọng hơn là khả năng duy trì uy tín thương hiệu trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Nếu doanh nghiệp Việt không bảo vệ được tài sản trí tuệ thì rất khó đi đường dài.
Phóng viên: Theo ông, Việt Nam cần làm gì để vừa nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT, vừa thúc đẩy xuất khẩu số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa?
Luật sư Lê Bá Thường: Tôi nghĩ cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, phải nâng cao tốc độ xử lý vi phạm trên môi trường số. Với các hành vi giả mạo rõ ràng, cần có cơ chế phản ứng nhanh, đặc biệt trên sàn TMĐT và mạng xã hội.
Thứ hai, cần đầu tư mạnh hơn vào công nghệ giám sát dữ liệu số, truy vết dòng tiền và nhận diện vi phạm trực tuyến. Khi vi phạm ngày càng sử dụng AI, quảng cáo tự động hay livestream thì cơ quan quản lý cũng phải thay đổi cách tiếp cận.
Thứ ba, cần tăng cường cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia xuất khẩu số. Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng xây dựng hệ thống bảo vệ thương hiệu riêng. Vì vậy, cần có các chương trình hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ, hỗ trợ xử lý tranh chấp, tư vấn pháp lý và hướng dẫn doanh nghiệp bảo vệ thương hiệu trên nền tảng số quốc tế.
Ngoài ra, tôi cho rằng yếu tố quan trọng nhất vẫn là xây dựng văn hóa sử dụng sản phẩm hợp pháp.
Khi người tiêu dùng chấp nhận mua hàng giả, xem nội dung vi phạm bản quyền hoặc dễ dãi với hành vi xâm phạm SHTT thì doanh nghiệp sáng tạo sẽ rất khó phát triển.
Một nền kinh tế muốn phát triển dựa trên chất lượng, thương hiệu và đổi mới sáng tạo thì không thể để hàng giả và hành vi chiếm dụng uy tín làm xói mòn niềm tin thị trường.
Với xuất khẩu số cũng vậy. Muốn hàng Việt đi xa trên môi trường TMĐT toàn cầu thì trước hết phải bảo vệ được giá trị thật của hàng Việt.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!