![]() |
| Các đại biểu và khách mời tham dự Tọa đàm ở điểm cầu tại Báo Tiền Phong. Ảnh: Dương Triều. |
Từ tăng trưởng nóng đến yêu cầu quản trị ngành hàng
Phát biểu tại Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng: Kiến tạo xuất khẩu bền vững” do Báo Tiền Phong tổ chức ngày 20/8/2026, ông Nguyễn Ngọc Tiến, Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong nhận định, sầu riêng đang bước vào giai đoạn phát triển đặc biệt. Chỉ trong vài năm, từ mặt hàng có quy mô xuất khẩu còn khiêm tốn, sầu riêng đã vươn lên vị trí dẫn đầu nhóm rau quả xuất khẩu, tạo sinh kế bền vững.
Ông Nguyễn Ngọc Tiến nhấn mạnh, diện tích, sản lượng tăng mạnh trong khi vùng nguyên liệu đủ điều kiện xuất khẩu chưa theo kịp; liên kết giữa người trồng, hợp tác xã, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp chưa bền chặt ở nhiều mắt xích. Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, chất lượng, an toàn thực phẩm, thương hiệu và uy tín ngành hàng vẫn là thách thức.
Đại diện cơ quan quản lý nhà nước, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, năm 2015 cả nước có khoảng 31.000 ha sầu riêng; năm 2020 trên 70.000 ha. Giai đoạn 2020-2025, diện tích gần gấp 3 lần, đạt khoảng 195.000 ha cuối năm 2025. Sản lượng tăng từ khoảng 600.000 tấn năm 2020 lên 1,8 triệu tấn năm 2025 và dự kiến vượt 2 triệu tấn năm 2026.
Ông Mạnh thẳng thắn cho rằng, sự phát triển quá nhanh, thậm chí “quá nóng”, đã bộc lộ khó khăn trong quản lý, sản xuất và tiêu thụ. Một số địa phương phát triển sầu riêng ở vùng không phù hợp sinh thái; quản lý, sử dụng mã số vùng trồng chịu sức ép lớn.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ được ban hành để tháo gỡ bất cập trong cấp và quản lý mã số vùng trồng. Ba điểm mới, bao gồm: không còn giới hạn diện tích tối thiểu khi cấp mã số; cho phép cấp mã số đối với cây trồng xen trên cùng thửa đất; giao cấp xã cấp, giám sát và kiểm tra mã số. Quy trình cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được thực hiện trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Gỡ nút thắt chất lượng, mở rộng không gian xuất khẩu
Đại diện cộng đồng doanh nghiệp, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, năm 2025 xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 3,86 tỷ USD, tăng hơn 20% và chiếm trên 45% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả. Riêng tháng 7/2026, xuất khẩu đạt khoảng 600-700 triệu USD, đưa kim ngạch 7 tháng năm 2026 lên khoảng 1,8 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ. Từ nay đến cuối năm, khoảng 1,3 triệu tấn sầu riêng dự kiến bước vào kỳ thu hoạch.
![]() |
| Ngành sầu riêng Việt Nam cần tiếp tục được tháo gỡ điểm nghẽn, hướng tới xuất khẩu bền vững. Ảnh: TL. |
Ông Bình chỉ rõ chất lượng, năng lực kiểm nghiệm, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và thủ tục thông quan là những điểm nghẽn lớn. Các thị trường nhập khẩu ngày càng siết tiêu chuẩn, đặc biệt với cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại. Vấn đề cadimi và vàng O đã được đặt ra từ cuối năm 2024 nhưng vẫn cần hướng dẫn cụ thể, nhất là quy trình xử lý cadimi trong đất.
Ông Bình cho rằng, kiểm soát phải thực hiện từ đầu vào, vùng trồng và quá trình sản xuất. Doanh nghiệp có thể mua hàng, thanh toán cho nông dân, đóng container rồi mới kiểm nghiệm; nếu không đạt chuẩn, toàn bộ chi phí có thể dồn lên doanh nghiệp. Ông Bình tham khảo cách làm của Thái Lan: cơ quan quản lý nắm thời điểm thu hoạch, danh sách hộ dân và vùng trồng; chỉ vùng đáp ứng yêu cầu mới được thu hoạch.
Năng lực kiểm nghiệm cũng cần tăng cường. Việt Nam hiện có 50 cơ sở kiểm nghiệm được Trung Quốc công nhận, song Tây Nguyên còn thiếu cơ sở. Vận chuyển mẫu đi xa, chờ kết quả lâu làm tăng chi phí và ảnh hưởng tiến độ xuất khẩu. Cần khuyến khích đầu tư thêm phòng kiểm nghiệm tại vùng sản xuất tập trung; đồng thời đẩy nhanh cấp mã số, cơ sở đóng gói, kiểm định và hướng dẫn rõ truy xuất nguồn gốc quốc gia đối với sầu riêng đã triển khai từ ngày 1/7/2026.
Ở góc độ doanh nghiệp kinh doanh vật tư đầu vào, ông Vũ Duy Hải, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Vinacam cho rằng, ngành sầu riêng và nông sản Việt Nam đối mặt ít nhất bốn điểm nghẽn cốt lõi: chất lượng vật tư nông nghiệp; kiểm soát hóa chất; tiêu chuẩn xuất khẩu; sự phối hợp giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước.
Về cadimi, ông Hải cho rằng, phải kiểm soát ngay từ nguồn vật tư. Ngày 1/6/2026, doanh nghiệp đề xuất giảm giới hạn cadimi trong phân DAP và phân lân từ tối đa 12 ppm xuống khoảng 5-6 ppm; phân hữu cơ xuống 2-3 ppm; đồng thời bổ sung quy định kiểm soát cadimi đối với NPK và các loại phân có chứa lân.
Đại diện Vinacam cũng đề xuất khuyến khích dòng DAP có hàm lượng cadimi thấp, kết hợp chất cải tạo đất và vi lượng nhằm hạn chế nguy cơ cây hấp thụ cadimi.
Đồng thời, cần đa dạng hóa thị trường, phát triển chế biến sâu, kho lạnh, logistics, xây dựng thương hiệu và nâng giá trị gia tăng. Cải thiện thông quan, xây dựng “luồng xanh”, cửa khẩu thông minh, kết nối với Hải quan Trung Quốc; về lâu dài hướng tới công nhận kết quả kiểm nghiệm của nhau, thống nhất tiêu chuẩn và phương pháp để giảm kiểm tra trùng lặp, rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí.
Có thể thấy, từ một ngành hàng phát triển “quá nóng”, sầu riêng Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang giai đoạn có kỷ luật hơn. Mục tiêu là xây dựng ngành hàng minh bạch, chuyên nghiệp, kiểm soát chất lượng từ gốc và thích ứng với tiêu chuẩn ngày càng cao hơn nữa. Khi từng mắt xích được quản trị chặt chẽ, giá trị tỷ USD của sầu riêng mới có thể trở thành nền tảng cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững lâu dài.