![]() |
| Ông Bùi Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Trọng Nghĩa. |
Thị trường lớn đòi hỏi cách làm bài bản
Ngày 26/10/2026 tại Hà Nội, Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức Hội thảo “Tư vấn quản lý rủi ro trong xúc tiến thương mại và kinh doanh xuất khẩu với thị trường Trung Quốc” nhằm nhận diện rào cản, đề xuất giải pháp thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Phát biểu tại Hội thảo, ông Bùi Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, nhấn mạnh: “Cơ hội thị trường Trung Quốc càng lớn, yêu cầu về năng lực quản trị rủi ro càng cao”. Sức mua và lợi thế logistics tạo điều kiện để hàng hóa Việt Nam nâng chất lượng, phát triển thương hiệu.
Không thể tiếp cận Trung Quốc chỉ bằng lợi thế địa lý hay giá cạnh tranh. Yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật và truy xuất nguồn gốc ngày càng quan trọng; thương mại điện tử và logistics xuyên biên giới cũng thay đổi giao dịch, giao nhận. Doanh nghiệp phải bảo đảm hợp đồng, hồ sơ và thanh toán minh bạch.
Ông Bùi Quang Hưng lưu ý, hàng hóa ách tắc tại cửa khẩu làm tăng chi phí, ảnh hưởng chất lượng và uy tín. Hợp đồng thiếu chặt chẽ, đối tác chưa xác minh hoặc thanh toán không an toàn có thể khiến doanh nghiệp mất tiền, bỏ lỡ cơ hội và suy giảm lợi thế giá. Vì vậy, xuất khẩu chính ngạch, chuyên nghiệp và dài hạn là yêu cầu tất yếu.
Phát biểu tham luận tại Hội thảo, TS. Trịnh Thị Thanh Thủy, Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho rằng, doanh nghiệp cần nhìn cả quy mô Trung Quốc lẫn sự khác biệt về nhu cầu. Với hơn 1,4 tỷ dân, thị trường không đồng nhất: nhu cầu tại Bắc Kinh, Thâm Quyến, Thành Đô khác khu vực thu nhập thấp hơn. Doanh nghiệp cần chọn phân khúc, nắm thị hiếu, hiểu đối tác.
![]() |
| Các đại biểu tham dự, đóng góp ý kiến tại Hội thảo. Ảnh: Trọng Nghĩa. |
Rủi ro lớn là thiếu thông tin đầy đủ, kịp thời. Chính sách dài hạn có thể ổn định, nhưng thực thi địa phương chịu tác động mùa vụ, sản lượng và nhu cầu. Vào vụ thu hoạch nông sản nội địa, nhập khẩu mặt hàng tương tự có thể bị siết chặt; một số sản phẩm chỉ thông quan tại cửa khẩu nhất định. Thiếu cập nhật dễ dẫn đến chọn sai thời điểm, phương án vận chuyển.
Xu hướng bảo vệ người tiêu dùng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và bảo vệ môi trường đang tác động đến chính sách nhập khẩu Trung Quốc. Doanh nghiệp cần theo sát quy định về kiểm dịch, chất lượng, truy xuất nguồn gốc, biên giới và an toàn thực phẩm. Cần đối chiếu Lệnh 280, gồm 17 nhóm mặt hàng rủi ro, với sản phẩm cụ thể. Rà soát quy định, chuẩn bị hồ sơ trước khi ký giúp hạn chế sai sót.
Từ cửa khẩu đến thanh toán: kiểm soát từng mắt xích
Thông tin thị trường cần chuyển thành quy trình quản trị. Với Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), quy tắc cộng gộp xuất xứ cho phép dùng nguyên liệu từ thành viên, sản xuất tại Việt Nam và hưởng ưu đãi nếu đủ điều kiện. Ưu đãi thuế không tự động có được: doanh nghiệp phải xác định đúng quy tắc, lưu hồ sơ xuất xứ, chuẩn bị chứng từ đúng.
Tại Trùng Khánh, lỗi chứng từ, xuất xứ và thanh toán có thể cản trở giao thương. Bà Triệu Thúy Nga, Trưởng Văn phòng Xúc tiến Thương mại Việt Nam tại Trùng Khánh cho biết, thương mại hai chiều Việt Nam - Trùng Khánh năm 2025 đạt khoảng 6,35 tỷ USD, tăng 19%; Việt Nam nhiều năm là đối tác thương mại lớn nhất của Trùng Khánh trong ASEAN. Đơn hàng ổn định đòi hỏi hồ sơ đúng và hiểu tập quán giao dịch.
Doanh nghiệp cần thống nhất tên hàng, mã HS, hóa đơn, phiếu đóng gói và chứng nhận xuất xứ mẫu E theo Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc. Thông tin trên chứng từ phải thống nhất, chính xác và phù hợp với hàng hóa thực tế, tránh sai sót khi thông quan hoặc ảnh hưởng đến ưu đãi thuế quan. Với hàng trung chuyển qua bên thứ ba, cần tuân thủ quy tắc vận chuyển trực tiếp và chứng minh hàng không bị gia công lại trái quy định. Thiếu chứng cứ có thể khiến hàng mất ưu đãi hoặc bị giữ.
![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Trọng Nghĩa. |
Cần tính logistics từ khâu chào giá, không chỉ chọn cước thấp. Doanh nghiệp có thể cân nhắc đường bộ, đường sắt thay vì đi biển đến cảng phía Đông Trung Quốc rồi chuyển hàng về Trùng Khánh. Phương án tập kết phù hợp có thể nâng hiệu suất khoảng 30%, giảm chi phí 20%; thời gian nhanh nhất từ Trùng Khánh đến Hà Nội là ba ngày. Với nông sản, tuyến lạnh hoặc chuyến chiều về được kỳ vọng giảm khoảng 10% chi phí. Cần đối chiếu hiệu quả với đặc tính hàng, yêu cầu bảo quản.
Bên cạnh logistics, thanh toán cũng là khâu doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Một số nhà bán buôn cấp hai tại Trùng Khánh có thể kéo dài thời hạn trả tiền sau khi nhận hàng. Giao cho nhà phân phối chưa thẩm định có thể dẫn đến chậm trả, tranh chấp hoặc hàng bị trả lại. Doanh nghiệp nên cân nhắc thanh toán trước bằng chuyển tiền điện tử (T/T) hoặc hợp tác với doanh nghiệp chuỗi cung ứng uy tín.
Quản trị rủi ro phải xuyên suốt từ nghiên cứu thị trường, xác minh đối tác, tính chi phí, cập nhật quy định đến chuẩn hóa chứng từ, lựa chọn vận tải và thiết kế thanh toán. Doanh nghiệp nên lập danh mục rủi ro, phân công đầu mối cập nhật chính sách, lưu dữ liệu và rà soát từng lô hàng. Cơ quan quản lý, văn phòng xúc tiến thương mại và đơn vị logistics cần phối hợp cảnh báo sớm.
Có thể thấy, Trung Quốc là thị trường giàu tiềm năng, nhưng cơ hội chỉ thuộc về doanh nghiệp chuẩn bị bài bản và ứng phó linh hoạt. Từ nắm bắt chính sách, thấu hiểu thị trường đến kiểm soát chứng từ, logistics và thanh toán, mỗi mắt xích đều quyết định hiệu quả giao thương. Khi quản trị rủi ro được nâng cao, doanh nghiệp Việt Nam sẽ chủ động hơn trước biến động, giảm thiểu tổn thất, củng cố uy tín và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới xuất khẩu bền vững.