![]() |
| Hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành (Lào Cai) - địa bàn giao thương quan trọng với Trung Quốc. Ảnh: Thái Bình. |
Đối tác thương mại lớn nhất
Theo số liệu mới nhất của Cục Hải quan, trong 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 65,86 tỷ USD, tăng 32,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, nhập khẩu từ thị trường này đạt 187,34 tỷ USD, tăng 39,3%.
Với quy mô kim ngạch 253,2 tỷ USD, Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 28,5% tổng kim ngạch cả nước. Tổng kim ngạch hai chiều tăng thêm gần 69,2 tỷ USD sau một năm cho thấy quy mô giao thương tiếp tục mở rộng mạnh mẽ.
Đáng chú ý, tăng trưởng xuất khẩu được nâng đỡ bởi những nhóm hàng công nghiệp có kim ngạch lớn, bên cạnh sự cải thiện của nhiều mặt hàng nông, thủy sản.
Cụ thể, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là điểm sáng nổi bật nhất, đạt 23,23 tỷ USD, tăng 85,2%. Riêng nhóm hàng này tăng thêm 10,7 tỷ USD, đóng góp khoảng 65,5% mức tăng kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc.
Đồng thời, tỷ trọng của nhóm hàng này trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cũng tăng từ khoảng 25,3% của cùng kỳ năm ngoái lên 35,3%.
Sự thay đổi trên cho thấy điện tử ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc.
Tuy nhiên, mức độ tập trung tăng lên cũng đặt ra yêu cầu theo dõi sát diễn biến đơn hàng và nhu cầu của ngành, bởi biến động của một nhóm hàng lớn có thể tác động đáng kể tới kết quả xuất khẩu chung.
Điện thoại các loại và linh kiện có kim ngạch đứng thứ hai, đạt 11,31 tỷ USD, tăng 10,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 5,15 tỷ USD, tăng 27,9%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 3,18 tỷ USD, tăng 5%.
Không chỉ có lĩnh vực điện tử và máy móc, các nhóm hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp cũng tiếp tục tạo dấu ấn. Các nhóm hàng lớn trong lĩnh vực này như rau quả với 4,72 tỷ USD, tăng 22,4%; thủy sản đạt 2,19 tỷ USD, tăng 34,2%; hạt điều đạt 964 triệu USD, tăng 20,9%; cà phê đạt gần 280 triệu USD, tăng 53,1%.
Gạo cũng ghi nhận bước tiến đáng chú ý khi đạt gần 535 triệu USD, tăng 75,7%. Lượng xuất khẩu tăng từ gần 600 nghìn tấn của cùng kỳ 2025 lên khoảng 1,1 triệu tấn, tương đương tăng 82,8%.
Nhưng lượng tăng nhanh hơn kim ngạch cho thấy giá xuất khẩu bình quân giảm; vì vậy, mở rộng thị trường cần đi cùng cải thiện chất lượng và hiệu quả thương mại.
Ngoài ra, gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,98 tỷ USD, tăng 40,8%; xơ, sợi dệt các loại đạt gần 1,98 tỷ USD, tăng 28%; thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 871 triệu USD, tăng 96,2%..., những kết quả này giúp động lực xuất khẩu có thêm sự bổ trợ từ nhiều ngành hàng.
Dù vậy, tăng trưởng chưa đồng đều ở các nhóm hàng chủ lực khi cao su giảm 20,5%, còn 1,29 tỷ USD; giày dép giảm 23,1%, còn 918 triệu USD; sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 5,4%, còn 834 triệu USD...
Diễn biến trái chiều cho thấy doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược theo từng sản phẩm, thay vì dựa vào đà tăng chung của thị trường.
![]() |
| Hoạt động xuất nhập khẩu tại khu vực cảng Hải Phòng. Ảnh: Công ty CP cảng Hải Phòng. |
Cần cải thiện cán cân thương mại
Ở chiều nhập khẩu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cũng dẫn đầu khi đạt 69,69 tỷ USD, tăng 81,3%, tương ứng tăng thêm 31,26 tỷ USD. Đây là nhóm hàng có đóng góp lớn nhất, chiếm khoảng 59,1% vào kim ngạch nhập khẩu tăng thêm từ Trung Quốc.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đứng thứ hai đạt 34,91 tỷ USD, tăng 23,9%. Tính chung hai nhóm hàng này đạt 104,6 tỷ USD, chiếm 55,8% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc.
Quy mô lớn của thiết bị và linh kiện cho thấy vai trò đáng kể của nguồn cung từ Trung Quốc đối với hoạt động sản xuất trong nước.
Nhiều nhóm hàng là nguyên liệu đầu vào khác cũng ghi nhận mức tăng khá. Trong đó, chất dẻo nguyên liệu đạt 4,21 tỷ USD, tăng 47,6%; hóa chất đạt 3,47 tỷ USD, tăng 31,6%; sản phẩm từ sắt thép đạt 5,62 tỷ USD, tăng 30,8%; vải các loại đạt 8,17 tỷ USD, tăng 6,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày đạt 3,57 tỷ USD, tăng 11,2%...
Nhập khẩu phục vụ lĩnh vực ô tô cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Trong đó, linh kiện, phụ tùng đạt hơn 3 tỷ USD, tăng 89,9%; ô tô nguyên chiếc đạt 1,78 tỷ USD, tăng 57,5%.
Trong bức tranh chung, một số nhóm hàng lại có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm ngoái như điện thoại và linh kiện giảm 7,2%; phân bón giảm 56,2%; sắt thép các loại giảm nhẹ 0,4%...
Một vấn đề đáng chú ý là nhập siêu từ Trung Quốc lên tới 121,48 tỷ USD, tăng 43% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ 2025 nhập siêu 84,92 tỷ USD).
Nhưng, việc nhập siêu cũng cần được nhìn trong tổng thể chuỗi sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nhập khẩu máy móc, linh kiện là sự hỗ trợ năng lực sản xuất lớn trong nước, song sự tập trung lớn vào một nguồn cung cũng làm tăng mức độ nhạy cảm trước biến động giá, vận tải và tiến độ giao hàng.
Yêu cầu đặt ra là sử dụng hiệu quả nguồn hàng nhập khẩu, đồng thời từng bước nâng khả năng cung ứng trong nước. Trong đó, lời giải quan trọng là cần phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với nhu cầu thực tế của các ngành điện tử, cơ khí, ô tô, dệt may…
Đồng thời, về xuất khẩu, cần tiếp tục củng cố các nhóm hàng công nghiệp chủ lực, đồng thời mở rộng đầu ra cho nông, lâm, thủy sản… Chất lượng ổn định, gắn với truy xuất nguồn gốc rõ ràng, minh bạch; chế biến sâu và xây dựng thương hiệu phải trở thành nền tảng cạnh tranh.
Cùng với nỗ lực của doanh nghiệp, cơ quan quản lý, trong đó có cơ quan Hải quan cần tiếp tục tạo thuận lợi thông quan trên cơ sở quản lý rủi ro, tăng trao đổi thông tin và phối hợp giải quyết vướng mắc tại cửa khẩu; kiểm soát chặt chẽ xuất xứ, chống gian lận thương mại và bảo đảm tuân thủ là điều kiện để giao thương phát triển bền vững.
Với kim ngạch 253,2 tỷ USD sau 9 tháng (tương đương bình quân 28,1 tỷ USD/tháng), nếu duy trì kim ngạch bình quân này trong 3 tháng cuối năm, năm 2026, xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc có thể đạt 337 tỷ USD.