![]() |
| Các đại biểu tham dự, đóng góp ý kiến tham luận tại Hội thảo. Ảnh: Trọng Nghĩa. |
Thị trường ASEAN rộng mở, rủi ro không đồng nhất
Với lợi thế địa lý, kết nối vận tải và mạng lưới các hiệp định thương mại, ASEAN tiếp tục là thị trường quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng xuất khẩu. Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) tạo khuôn khổ thúc đẩy lưu thông hàng hóa và hưởng ưu đãi thuế quan trong khu vực. Tuy nhiên, hội nhập không có nghĩa các thị trường thành viên hoàn toàn giống nhau về điều kiện nhập khẩu, tiêu chuẩn hàng hóa, thủ tục hành chính và cách thức tổ chức kinh doanh.
Thực tế đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp không chỉ tìm kiếm đơn hàng mà còn phải chủ động quản trị rủi ro xuyên suốt quá trình giao dịch. Một đối tác có năng lực tài chính không rõ ràng, điều khoản hợp đồng thiếu chặt chẽ, phương thức thanh toán chưa an toàn hay hồ sơ xuất xứ không đáp ứng quy định đều có thể làm phát sinh chi phí, chậm giao hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xuất khẩu.
Tại hội thảo “Tư vấn quản lý rủi ro trong xúc tiến thương mại và kinh doanh xuất khẩu với thị trường ASEAN” do Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức ngày 27/10 tại Hà Nội, các chuyên gia tập trung phân tích những nguy cơ doanh nghiệp có thể gặp phải khi tiếp cận thị trường khu vực, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa và xử lý tình huống phát sinh.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư thuộc Cục Xúc tiến Thương mại, quản lý rủi ro cần được đặt trong toàn bộ quy trình kinh doanh xuất khẩu, từ nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác đến ký kết hợp đồng, thanh toán và giao nhận. Nếu chỉ chú trọng tìm kiếm khách hàng mà xem nhẹ khâu thẩm định, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với những tổn thất khó khắc phục khi sự cố xảy ra.
Đặc biệt, doanh nghiệp cần xác minh tư cách pháp lý, địa chỉ và năng lực thực tế của đối tác; làm rõ vai trò, trách nhiệm của từng bên trong giao dịch nhiều bên; đồng thời thận trọng với các điều khoản về thanh toán, thời hạn giao hàng và xử lý tranh chấp. Việc kiểm tra thông tin trước khi ký hợp đồng cần được coi là bước bắt buộc, không nên thay thế bằng sự tin tưởng đơn thuần hoặc quyết định vội vàng vì muốn chốt đơn hàng.
Những yêu cầu này được thể hiện rõ tại Malaysia, một trong những thị trường ASEAN có quan hệ thương mại đáng chú ý với Việt Nam. Theo ông Phùng Văn Thành, Tham tán thương mại - Thương vụ Việt Nam tại Malaysia, năm 2025, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Malaysia đạt 16,33 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 5,33 tỷ USD.
Chín tháng năm 2026, xuất khẩu của Việt Nam sang Malaysia đạt 5,67 tỷ USD, tăng 46% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 11,7 tỷ USD, tăng 43,2%. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 17,4 tỷ USD, trong đó Việt Nam nhập siêu khoảng 6,04 tỷ USD. Kết quả xuất khẩu sau 9 tháng đã vượt mức cả năm 2025, cho thấy dư địa khai thác thị trường vẫn đáng quan tâm.
Tuy nhiên, cơ hội tăng trưởng cũng đi kèm yêu cầu thích ứng với đặc điểm từng thị trường. Tại Malaysia, doanh nghiệp cần tìm hiểu thị hiếu người tiêu dùng, mức độ cạnh tranh và các điều kiện đối với sản phẩm hướng tới cộng đồng Hồi giáo, trong đó có yêu cầu về chứng nhận Halal khi áp dụng. Với các thị trường ASEAN khác, doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu riêng quy định và tập quán kinh doanh, tránh áp dụng máy móc kinh nghiệm từ một quốc gia sang quốc gia khác.
Nắm chắc quy tắc xuất xứ, tuân thủ điều kiện nhập khẩu
Một trong những lợi thế quan trọng khi xuất khẩu trong ASEAN là khả năng tận dụng ưu đãi thuế quan theo ATIGA và các hiệp định thương mại liên quan. Tuy nhiên, ưu đãi chỉ phát huy hiệu quả khi hàng hóa đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ và doanh nghiệp thực hiện đầy đủ thủ tục chứng minh theo quy định. Việc lựa chọn sai cơ chế ưu đãi hoặc chuẩn bị hồ sơ thiếu chính xác có thể khiến doanh nghiệp mất lợi thế về thuế, thậm chí phát sinh chi phí ngoài dự kiến.
![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: Trọng Nghĩa. |
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà, Trường Đại học Ngoại thương khuyến nghị, doanh nghiệp cần tìm hiểu các quy định cụ thể của thị trường nhập khẩu, từ tiêu chuẩn sản phẩm, ghi nhãn, đăng ký lưu hành đến điều kiện phân phối. Cùng một mặt hàng nhưng yêu cầu áp dụng tại từng quốc gia có thể khác nhau. Do đó, trước khi chào hàng và ký kết hợp đồng, doanh nghiệp cần kiểm tra khả năng đáp ứng các điều kiện nhập khẩu, thay vì chỉ căn cứ vào nhu cầu thị trường hoặc mức thuế ưu đãi.
Đối với chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), ông Hoàng Đức Minh, đại diện Phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) phân tích những yêu cầu cần lưu ý trong quá trình xác định và chứng minh xuất xứ. Khi một mặt hàng có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều hiệp định, doanh nghiệp phải xác định đúng quy tắc và mẫu chứng từ tương ứng; đồng thời bảo đảm thông tin trên C/O thống nhất với hóa đơn, lô hàng và bộ hồ sơ liên quan.
Các sai sót như sử dụng không đúng mẫu C/O, khai báo thiếu chính xác, hồ sơ chưa đầy đủ hoặc không đáp ứng yêu cầu đối với hóa đơn bên thứ ba và chứng từ cấp sau có thể dẫn đến vướng mắc khi thông quan hoặc xác minh xuất xứ. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động rà soát hồ sơ trước khi nộp, lưu giữ chứng từ nguyên liệu, tài liệu sản xuất và các dữ liệu cần thiết để giải trình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Đáng lưu ý, rủi ro không kết thúc khi hàng hóa đã được xuất khẩu hoặc C/O đã được cấp. Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu có thể tiến hành xác minh sau thông quan. Nếu không chứng minh được hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ, doanh nghiệp có thể mất quyền hưởng ưu đãi thuế quan; các bên liên quan còn phải đối mặt với nguy cơ phát sinh khoản thuế chênh lệch và biện pháp xử lý theo quy định.
Bên cạnh đó, quản trị hợp đồng và thanh toán cần được triển khai song song với việc tuân thủ quy định. Doanh nghiệp nên quy định rõ luật áp dụng, phương thức thanh toán, trách nhiệm giao nhận và cơ chế giải quyết tranh chấp; cân nhắc kỹ điều kiện giao hàng, bảo hiểm và khả năng thu hồi công nợ. Những thỏa thuận rõ ràng ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế bất đồng và tạo cơ sở xử lý khi giao dịch phát sinh vấn đề.
Để giảm thiểu rủi ro tại thị trường ASEAN, doanh nghiệp Việt Nam cần kết hợp nhiều giải pháp: cập nhật thông tin thị trường, thẩm định đối tác, chuẩn hóa hợp đồng, kiểm soát chứng từ và chủ động tìm hiểu quy định chuyên ngành. Khi gặp vướng mắc, doanh nghiệp có thể liên hệ cơ quan quản lý, đơn vị hỗ trợ xúc tiến thương mại hoặc thương vụ Việt Nam tại nước sở tại để tìm kiếm thông tin và hướng dẫn phù hợp.
Có thể thấy, mở rộng xuất khẩu sang thị trường ASEAN không chỉ là gia tăng số lượng đơn hàng mà còn là nâng cao năng lực tổ chức và bảo vệ giao dịch. Khi coi quản trị rủi ro là một khâu thiết yếu trong chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ sở vững chắc hơn để tận dụng cơ hội từ hội nhập khu vực, hạn chế tổn thất và duy trì tăng trưởng xuất khẩu bền vững.