![]() |
| Ngành cao su phát triển xuất khẩu thông qua sản phẩm đã qua chế biến. Ảnh minh họa: M.Hà. |
Sự mở rộng hiện diện của lốp xe Việt Nam tại Liên minh châu Âu (EU) đặt ra một góc nhìn đáng chú ý đối với ngành cao su, đó là phát triển xuất khẩu thông qua sản phẩm đã qua chế biến, sản xuất, có yêu cầu cao về công nghệ và chất lượng.
Theo Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ hai, sau Thái Lan, chiếm khoảng 19,2% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của EU.
Kết quả này có ý nghĩa vượt ra ngoài tăng trưởng của một mặt hàng xuất khẩu. Lốp xe là sản phẩm công nghiệp sử dụng cao su cùng các vật liệu khác, được tạo ra qua nhiều công đoạn sản xuất và kiểm soát chất lượng. Do đó, xuất khẩu lốp xe cũng là xuất khẩu sản phẩm cao su đã được chuyển hóa thành thành phẩm, mang thêm giá trị từ công nghệ, lao động và năng lực tổ chức sản xuất, tạo thêm thặng dư cho chuỗi giá trị ngành cao su.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), Việt Nam giữ vững vị thế là nhà sản xuất cao su tự nhiên lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Thái Lan và Indonesia trong năm 2025. Đồng thời tiềm năng xuất khẩu còn được hỗ trợ bởi hoạt động thay thế lốp xe, sản xuất ô tô, sự phát triển của thị trường xe điện trong nước và các đối tác quen thuộc như Trung Quốc, Ấn Độ và châu Âu.
Với ngành cao su Việt Nam, phát triển sản xuất lốp xe mở ra cơ hội tham gia sâu hơn vào khâu chế tạo thành phẩm. Giá trị sản phẩm được hình thành từ khả năng phối trộn vật liệu, thiết kế, gia công, kiểm định và đáp ứng yêu cầu sử dụng, thay vì chỉ phụ thuộc vào diễn biến giá nguyên liệu.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu lốp còn phụ thuộc cơ cấu nguyên liệu, năng lực cung ứng nội địa và mức độ liên kết giữa nhà máy với doanh nghiệp sơ chế, vùng trồng.
Bởi vậy, cơ hội cần được cụ thể hóa bằng việc kết nối nhu cầu của nhà sản xuất lốp với nguồn cao su có chất lượng ổn định, đáp ứng đúng yêu cầu kỹ thuật. Liên kết mua bán dài hạn, thống nhất tiêu chuẩn và chia sẻ dữ liệu nguồn gốc có thể giúp doanh nghiệp chủ động đầu vào, đồng thời tạo điều kiện để nhà cung cấp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất.
Lãnh đạo Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) cho biết, ngành cao su đang đẩy nhanh thích ứng với quy định chống mất rừng EUDR, coi đây vừa là thách thức vừa là cơ hội để tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng minh bạch và bền vững.
Đối với lốp xe xuất khẩu, định hướng này cần được thể hiện bằng chất lượng ổn định, hiệu quả sản xuất và khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Đó cũng là cơ sở để mở rộng thị trường bằng năng lực sản xuất thực chất, từng bước củng cố vị trí của công nghiệp chế biến cao su Việt Nam.
![]() |
| Tiềm năng xuất khẩu còn được hỗ trợ bởi hoạt động thay thế lốp xe, sản xuất ô tô và sự phát triển của thị trường xe điện. Ảnh minh họa: M.Hà. |
Cùng với cơ hội tăng giá trị, xu thế bảo hộ cũng đặt doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu đến gần hơn với các yêu cầu mới và các rủi ro thương mại tại thị trường nhập khẩu thành phẩm.
Theo Cục Phòng vệ thương mại, EU đang áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với một số loại lốp xe buýt, xe tải có xuất xứ Trung Quốc. Doanh nghiệp Việt Nam cần kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, bảo đảm xuất xứ và hoạt động sản xuất thực chất, lưu giữ hồ sơ để hạn chế rủi ro bị điều tra chống lẩn tránh.
Theo cảnh báo, việc tăng trưởng xuất khẩu hoặc thị phần lớn không tự động đồng nghĩa với vi phạm hay chắc chắn bị áp thuế. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chuẩn bị khả năng giải trình trước khi phát sinh vụ việc, nhất là khi mở rộng công suất và tiếp nhận thêm đơn hàng.
Từ góc độ quản trị, hồ sơ cần kết nối được nguyên liệu đầu vào với quá trình sản xuất và lô hàng xuất khẩu; đồng thời dữ liệu mua hàng, định mức sử dụng vật tư, công suất máy móc, sản lượng và chứng từ bán hàng phải nhất quán, có thể kiểm tra, đối chiếu.
Đồng thời, doanh nghiệp cần quản lý rõ chi phí và chính sách giá theo từng dòng sản phẩm, thị trường. Việc lưu giữ đầy đủ dữ liệu về nguyên liệu, năng lượng, nhân công, chiết khấu và giao dịch liên kết giúp nâng chất lượng quản trị, tạo nền tảng giải trình khi cơ quan điều tra yêu cầu.
Yêu cầu minh bạch còn kéo dài đến chuỗi cung ứng cao su. Theo đại diện lãnh đạo VRA, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, số hóa bản đồ vùng trồng, áp dụng tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và điều chỉnh hệ thống quản trị nội bộ; xu hướng chung của toàn ngành là đẩy mạnh số hóa và minh bạch chuỗi cung ứng.
Nhìn từ sản xuất lốp xe, vấn đề này cho thấy đầu tư tại nhà máy cần đi cùng nâng chất lượng quản lý nhà cung cấp. Vì vậy, cần tăng phối hợp giữa nhà sản xuất lốp, doanh nghiệp cung ứng cao su và hiệp hội ngành hàng trong chuẩn hóa dữ liệu, theo dõi cảnh báo, cập nhật yêu cầu của khách hàng, góp phần cải thiện chất lượng và khả năng truy xuất ngay từ đầu chuỗi.
Về dài hạn, mở rộng xuất khẩu lốp xe cần gắn với nâng năng lực công nghiệp cao su Việt Nam. Thị phần tại các thị trường trọng điểm chỉ thực sự trở thành lợi thế bền vững khi doanh nghiệp đồng thời nâng chất lượng sản phẩm, củng cố liên kết nguyên liệu và chủ động quản trị rủi ro thương mại. Đây cũng là cách để tăng trưởng xuất khẩu tạo thêm giá trị cho chuỗi sản xuất trong nước.