Thứ sáu 06/11/2026 22:50
Thời tiết: Hà Nội 26°C
Đà Nẵng 27°C
Cà Mau 26°C
Hải Phòng 25°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách
aa

AJCEP đổi quy tắc, doanh nghiệp cần tính lại xuất xứ

Ngô Kiến
Từ ngày 15/2/2027, Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR) trong Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) dự kiến chuyển từ mã hóa hàng hóa năm 2017 (HS 2017) sang HS 2022. Thay đổi này tác động trực tiếp đến việc xác định xuất xứ hàng hóa, cấp và sử dụng chứng nhận xuất xứ (C/O), đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản sớm rà soát danh mục hàng hóa, nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất để bảo đảm khả năng tiếp tục hưởng ưu đãi thuế quan.
AJCEP đổi quy tắc, doanh nghiệp cần tính lại xuất xứ
Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI.

Không chỉ đổi mã HS, doanh nghiệp phải tính lại xuất xứ

Theo Bộ Công Thương, ngày 16-17/7/2026, Ủy ban hỗn hợp thực thi Hiệp định AJCEP đã thông qua việc chuyển đổi PSR từ HS 2017 sang HS 2022, đồng thời sửa đổi Quy tắc thực hiện để triển khai danh mục mới. Các nội dung này dự kiến có hiệu lực từ ngày 15/2/2027.

AJCEP đổi quy tắc, doanh nghiệp cần tính lại xuất xứ

Khi quy định có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập khẩu cần đặc biệt chú ý sự tương thích giữa mã HS của nguyên liệu đầu vào và thành phẩm, cũng như khả năng đáp ứng tỷ lệ giá trị khu vực. Nếu không rà soát đầy đủ, hàng hóa có thể không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo danh mục mới, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang Nhật Bản.

Ông Nguyễn Ngọc Linh

Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 37/2022/TT-BCT ngày 23/12/2022 quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong AJCEP (gọi tắt dự thảo). Hai nội dung sửa đổi đáng chú ý là thay thế Phụ lục I về Quy tắc cụ thể mặt hàng và điều chỉnh Điều 34 về xử lý C/O trong giai đoạn chuyển tiếp.

Từ thực tiễn thực thi quy tắc xuất xứ, ông Nguyễn Ngọc Linh, Giám đốc Thương hiệu Easy Export, chuyên gia Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số cho hay, việc chuyển đổi PSR không đơn thuần là cập nhật hệ thống mã HS. Bởi mã hàng là căn cứ để xác định tiêu chí xuất xứ mà sản phẩm phải đáp ứng khi đề nghị hưởng ưu đãi thuế quan. “Khi danh mục PSR thay đổi, doanh nghiệp cần đối chiếu lại từng mặt hàng, thay vì mặc nhiên sử dụng kết quả xác định xuất xứ theo quy định trước đây”, ông Linh nói.

Đáng chú ý, thực tế cũng cho thấy, cùng một nhóm sản phẩm nhưng tiêu chí xuất xứ có thể khác nhau tùy theo mức độ chế biến. Chẳng hạn, cà phê chưa rang thuộc các mã HS 0901.11 và 0901.12 áp dụng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp chương (CC), trong khi cà phê đã rang thuộc các mã HS 0901.21 và 0901.22 áp dụng tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực (RVC) tối thiểu 40%. Với hạt tiêu, loại chưa xay, nghiền áp dụng CC, còn loại đã xay hoặc nghiền áp dụng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp phân nhóm (CTSH).

Theo ông Linh, các tiêu chí này đặt ra yêu cầu khác nhau đối với nguồn nguyên liệu và công đoạn sản xuất. Trong đó, RVC 40% đòi hỏi hàm lượng giá trị khu vực đạt tối thiểu 40%, đồng thời công đoạn sản xuất cuối cùng phải được thực hiện tại một nước thành viên. Các tiêu chí CC, CTH và CTSH lần lượt yêu cầu nguyên liệu không có xuất xứ phải trải qua quá trình chuyển đổi mã HS ở cấp chương, nhóm và phân nhóm.

Với hàng công nghiệp và thực phẩm chế biến, tại dự thảo, cơ quan soạn thảo xem xét, thiết kế tiêu chí riêng theo từng mặt hàng. Một số sản phẩm đồ nội thất thuộc nhóm 94.03 được áp dụng RVC 40% hoặc CTSH, trong khi một số mặt hàng thực phẩm chế biến phải đáp ứng đồng thời yêu cầu về hàm lượng giá trị khu vực và chuyển đổi mã số hàng hóa.

Đáng chú ý, dự thảo sửa đổi duy trì cơ chế linh hoạt đối với một số nguyên liệu không có xuất xứ. Cụ thể, hàng hóa thuộc các phân nhóm 1803.10, 1803.20 và 1805.00 được sử dụng nguyên liệu không đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã HS nếu tổng trị giá nguyên liệu này không vượt quá 10% trị giá FOB của sản phẩm. Với hàng hóa thuộc phân nhóm 2103.90, tỷ lệ tương ứng không vượt quá 7%.

Theo chuyên gia, khi quy định có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập khẩu cần đặc biệt chú ý sự tương thích giữa mã HS của nguyên liệu đầu vào và thành phẩm, cũng như khả năng đáp ứng tỷ lệ giá trị khu vực. “Nếu không rà soát đầy đủ, hàng hóa có thể không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo danh mục mới, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang Nhật Bản”, ông Linh lưu ý.

Bảo đảm thông suốt C/O trong giai đoạn chuyển đổi

Bên cạnh việc cập nhật tiêu chí xuất xứ, dự thảo tập trung sửa đổi Điều 34 nhằm tháo gỡ những vướng mắc có thể phát sinh khi thời điểm xuất khẩu, cấp C/O và làm thủ tục nhập khẩu không trùng nhau.

Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 37/2022/TT-BCT ngày 23/12/2022 quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong AJCEP. Hai nội dung sửa đổi đáng chú ý là thay thế Phụ lục I về Quy tắc cụ thể mặt hàng và điều chỉnh Điều 34 về xử lý C/O trong giai đoạn chuyển tiếp.

C/O được cấp theo PSR HS 2017 trước thời điểm danh mục HS 2022 có hiệu lực vẫn được cơ quan hải quan nước thành viên nhập khẩu chấp nhận trong các trường hợp được quy định. Đối với lô hàng đã xuất khẩu trước thời điểm chuyển đổi nhưng C/O được cấp sau đó, dự thảo quy định việc cấp C/O căn cứ trên PSR phiên bản HS 2022.

Đối với C/O giáp lưng, cơ quan, tổ chức cấp C/O của nước thành viên nhập khẩu sẽ căn cứ mã HS trên C/O ban đầu và tình trạng hiệu lực của PSR chuyển đổi tại nước thành viên xuất khẩu hoặc các nước thành viên liên quan để xác định mã HS áp dụng.

Như vậy, so với quy định hiện hành đề cập đến phiên bản HS 2002, dự thảo cập nhật căn cứ sang HS 2017, đồng thời bổ sung cách xử lý đối với C/O cấp sau thời điểm chuyển đổi. “Việc làm rõ các tình huống này có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giúp hạn chế nguy cơ phát sinh vướng mắc về chứng từ và ưu đãi thuế quan trong quá trình chuyển tiếp”, ông Linh chia sẻ.

Từ thực tế đó, chuyên gia khuyến nghị rằng, doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản không nên chờ đến khi quy định mới có hiệu lực mới tiến hành rà soát. Trước hết, theo ông Linh, cần đối chiếu danh mục sản phẩm đang xuất khẩu với PSR HS 2022, xác định những mặt hàng có thay đổi về tiêu chí xuất xứ; đồng thời kiểm tra lại nguồn gốc nguyên liệu, mã HS đầu vào, quy trình sản xuất và hồ sơ chứng minh xuất xứ.

“Với những mặt hàng sử dụng nhiều nguyên liệu nhập khẩu hoặc áp dụng tiêu chí RVC 40%, doanh nghiệp cần chủ động chuẩn hóa dữ liệu về chi phí, trị giá nguyên liệu và công đoạn sản xuất. Đây là cơ sở để chứng minh xuất xứ khi đề nghị cấp C/O, đồng thời hạn chế rủi ro bị từ chối ưu đãi thuế quan tại thị trường nhập khẩu”, ông Linh khuyến nghị.

Ở góc độ thực thi, chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng, việc chuyển đổi PSR chỉ thực sự thuận lợi khi doanh nghiệp và cơ quan cấp C/O, cơ quan hải quan có cách hiểu thống nhất về danh mục mã hàng mới và quy định chuyển tiếp. Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện văn bản, hướng dẫn cụ thể cách đối chiếu mã HS cũ và mới, xử lý C/O trong từng tình huống cần được chú trọng.

Trong bối cảnh doanh nghiệp đang tìm cách khai thác hiệu quả các ưu đãi từ AJCEP, việc chủ động thích ứng với PSR HS 2022 không chỉ giúp duy trì điều kiện hưởng thuế suất ưu đãi mà còn góp phần nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng và bảo đảm tính ổn định của hoạt động xuất khẩu sang Nhật Bản.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Bộ Tài chính vừa công khai lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp cho người nộp thuế trạng thái 03, 06. Các chuyên gia cho rằng, chính sách này góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm và hỗ trợ làm sạch dữ liệu trong quản lý thuế.
Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận. Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2026–2030 đặt ra định hướng là chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống sang kiểm tra trên nền tảng công nghệ số, khai thác dữ liệu tập trung và quản lý rủi ro.
Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Cục Thuế vừa có Công văn số 7943/CT-QLNT hướng dẫn về chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, chế biến quặng chì, kẽm của Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hoàng Nam tại tỉnh Thái Nguyên. Trong đó, cơ quan thuế lưu ý việc xác định sản lượng và giá tính thuế phải căn cứ vào đặc điểm tài nguyên khai thác, quy trình chế biến và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các đề xuất của Bộ Tài chính nếu được thực hiện không chỉ góp phần tháo gỡ gánh nặng tài chính, mà còn tạo động lực xử lý mã số thuế tồn đọng, mở ra cơ hội cho người nộp thuế trở lại thị trường.
Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên mức thanh toán không dùng tiền mặt khi xác định chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 5 triệu đồng lên nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.
Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Cục Thuế vừa ban hành Công văn số 7978/CT-NVT yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố chấn chỉnh tình trạng tiếp nhận, xử lý hồ sơ chưa thống nhất, đồng thời hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm.
Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Từ thực tiễn triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế, đến các cơ chế đặc thù giải quyết các vướng mắc đang được Bộ Tài chính đề xuất đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương thức quản lý theo vòng đời người nộp thuế, nâng cao tính minh bạch của dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đáng tin cậy hơn.
Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Nhiều ý kiến góp ý từ các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và tư vấn thuế đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong đề xuất cơ chế đặc thù tháo gỡ những tồn đọng về mã số thuế. Các ý kiến cho rằng, các đề xuất này không chỉ góp phần giảm gánh nặng tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Máy móc miễn thuế quá 10 năm được đề xuất hai phương án xử lý

Máy móc miễn thuế quá 10 năm được đề xuất hai phương án xử lý

Đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu miễn thuế đã quá 10 năm, khấu hao hết giá trị và không còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2015/TT-BTC, Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Thông tư số 121/2025/TT-BTC (gọi tắt là dự thảo Thông tư) đưa ra hai phương án xử lý khi doanh nghiệp thay đổi mục đích sử dụng. Điểm khác biệt nằm ở thủ tục khai báo và cơ quan tiếp nhận nghĩa vụ thuế, là nội dung doanh nghiệp cần lưu ý khi rà soát, xử lý tài sản.
Khi người tiêu dùng trở thành mắt xích chống thất thu thuế

Khi người tiêu dùng trở thành mắt xích chống thất thu thuế

Từ thói quen không lấy hóa đơn trong những giao dịch thường ngày, người tiêu dùng có thể vô tình tạo nguy cơ thất thu thuế. Khuyến khích người mua lấy hóa đơn khi mua hàng hoá dịch vụ không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi mà còn tạo thêm kênh giám sát hoạt động kinh doanh, hạn chế thất thu ngân sách. Khi mỗi người mua chủ động ghi nhận giao dịch, minh bạch thị trường không còn là trách nhiệm riêng của cơ quan quản lý và người bán.
Sản phẩm tái chế xuất khẩu có được miễn thuế?

Sản phẩm tái chế xuất khẩu có được miễn thuế?

Tiêu chí xác định sản phẩm được miễn thuế xuất khẩu có sự thay đổi từ ngày 6/1/2025, doanh nghiệp cần căn cứ quy định áp dụng tại từng thời kỳ.
Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực về chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chính sách hỗ trợ về thuế tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đặc biệt, chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027 được kỳ vọng góp phần giảm áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Trước những vướng mắc kéo dài trong quá trình xử lý người nộp thuế trạng thái 03, 06, Bộ Tài chính đã xây dựng hai dự thảo Nghị quyết thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính phủ. Các đề xuất tập trung xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp, nghĩa vụ hồ sơ khai thuế và giảm mức phạt đối với một số hành vi chậm nộp hồ sơ, nhằm tạo điều kiện để người nộp thuế hoàn tất thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Trước thực trạng hàng triệu mã số thuế rơi vào trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế (MST), tạo nên gánh nặng pháp lý kéo dài nhiều năm, Cục Thuế đã có buổi đối thoại trực tiếp, cởi mở với chuyên gia luật doanh nghiệp Trần Vũ Hải và một số người dân để lắng nghe hàng loạt đề xuất tháo gỡ mang tính đột phá.
Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Cục Thuế vừa có Công văn số 8232/CT-PC hướng dẫn Thuế tỉnh Đồng Tháp tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp hoặc không nộp Thông báo doanh thu và thông báo số tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.