Thứ sáu 25/09/2026 17:32
Thời tiết: Hà Nội 33°C
Đà Nẵng 29°C
Cà Mau 26°C
Hải Phòng 31°C
TP Hồ Chí Minh 25°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Chính sách và cuộc sống
aa

Thiết kế lại ngưỡng miễn thuế hàng hóa giá trị nhỏ trong xuất nhập khẩu

Nụ Bùi
Việc điều chỉnh chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu giá trị nhỏ trong dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đặt ra yêu cầu vừa bảo đảm thu đúng, thu đủ, vừa tránh phát sinh thủ tục và chi phí quản lý, tuân thủ không tương xứng với giá trị lô hàng.
chính sách miễn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị nhỏ gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đã được chấm dứt. Ảnh: Ngọc Linh

Chính sách đối với hàng hóa giá trị nhỏ được đưa vào nhóm nội dung cần điều chỉnh trong dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP. Ảnh: Ngọc Linh

Hàng giá trị nhỏ và bài toán ngưỡng miễn thuế

Hàng hóa giá trị nhỏ nhập khẩu qua bưu chính, chuyển phát nhanh ngày càng gia tăng trong bối cảnh thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển nhanh. Theo Bộ Tài chính, số lượng giao dịch lớn nhưng trị giá từng lô hàng thường thấp, đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách đối với nhóm hàng này trong dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.

Theo nội dung dự thảo, hàng hóa nhập khẩu qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh có trị giá hải quan không quá 1 triệu đồng hoặc có số tiền thuế phải nộp không quá 100 nghìn đồng thuộc trường hợp miễn thuế nhập khẩu; nếu vượt một trong các ngưỡng này thì không thuộc trường hợp miễn thuế theo quy định.

Vấn đề đặt ra không chỉ là xác định một mức ngưỡng. Với hàng hóa giá trị thấp, mỗi lô hàng có thể có giá trị không lớn nhưng số lượng giao dịch rất lớn. Khi ngưỡng miễn thuế được điều chỉnh, khối lượng hồ sơ, dữ liệu, phân loại, xác định trị giá, kiểm tra chính sách mặt hàng và thực hiện nghĩa vụ thuế cũng có thể thay đổi tương ứng.

Quy định về hàng hóa giá trị nhỏ được đặt trong bối cảnh thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển nhanh, với số lượng giao dịch lớn nhưng trị giá từng lô hàng nhỏ. Thống kê từ Bộ Tài chính chỉ rõ, quy mô thị trường bán lẻ thương mại điện tử Việt Nam năm 2024 ước đạt trên 25 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2023. Năm 2025, quy mô thị trường được ước tính khoảng 31-38,5 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng khoảng 21-25,5%.

Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đặc biệt lưu ý vấn đề này đối với hàng hóa nhập khẩu qua dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế. EuroCham cho biết nhiều lô hàng giá trị thấp trên thực tế là hàng mẫu, tài liệu kỹ thuật, linh kiện thay thế, hàng bảo hành hoặc đơn hàng thương mại điện tử có giá trị nhỏ. Các lô hàng này có số lượng lớn nhưng giá trị thấp và theo đánh giá của EuroCham có mức độ rủi ro quản lý tương đối thấp.

Nếu tất cả các lô hàng đều phải thực hiện đầy đủ quy trình phân loại mã HS, xác định trị giá tính thuế, chính sách mặt hàng, kê khai và nộp thuế như những lô hàng thương mại thông thường, EuroCham cho rằng chi phí hành chính và chi phí tuân thủ có thể cao hơn đáng kể so với số thuế thực tế thu được. Điều này có thể tác động đến thời gian thông quan và hiệu quả hoạt động logistics.

Đây là điểm đáng chú ý trong thiết kế chính sách: Hiệu quả thu ngân sách không thể chỉ tính bằng số tiền thu được trên từng lô hàng, mà cần đặt trong tương quan với chi phí để quản lý và thu khoản tiền đó.

Đối với hàng hóa giá trị nhỏ, chi phí này không chỉ nằm ở phía cơ quan Hải quan mà còn phân bổ sang doanh nghiệp chuyển phát, doanh nghiệp logistics, người bán và người nhận hàng. Nếu thủ tục tăng lên quá nhiều, thời gian thông quan có thể kéo dài, trong khi giá trị hàng hóa không lớn.

Cân đối nguồn thu với chi phí tuân thủ

EuroCham còn đặt vấn đề trong việc thay đổi ngưỡng miễn thuế có thể kéo theo thay đổi về thủ tục quản lý chuyên ngành. Theo đó, một số trường hợp hàng hóa nhập khẩu qua bưu chính, chuyển phát nhanh hiện được miễn hoặc đơn giản hóa kiểm tra chuyên ngành khi đáp ứng điều kiện về trị giá hải quan được miễn thuế. Nếu ngưỡng miễn thuế bị bãi bỏ, nhiều lô hàng có thể phát sinh thêm thủ tục kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm dịch, công bố hợp quy hoặc giấy phép nhập khẩu.

Với doanh nghiệp, đây là vấn đề cần được đánh giá đồng thời khi thiết kế chính sách thuế. Một thay đổi tưởng như chỉ tác động đến số tiền thuế có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyền đối với quy trình thông quan.

Đặc biệt, đối với người tiêu dùng cá nhân nhận những lô hàng giá trị rất nhỏ, việc phải thực hiện các thủ tục chuyên ngành có thể tạo ra chi phí và yêu cầu mà họ không có đủ nguồn lực hoặc kinh nghiệm để thực hiện.

Nhân viên Công ty CP hữu nghị Xuân Cương (Lạng Sơn) kiểm soát hàng hóa trị giá thấp chuyển qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Ảnh: H.Nụ
Nhân viên Công ty CP hữu nghị Xuân Cương (Lạng Sơn) kiểm soát hàng hóa trị giá nhỏ chuyển qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Ảnh: H.Nụ

Vì vậy, EuroCham đề nghị Bộ Tài chính xem xét tiếp tục duy trì ngưỡng miễn thuế hiện hành đối với hàng hóa giá trị thấp nhập khẩu qua dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế. Trường hợp vẫn có chủ trương bãi bỏ ngưỡng miễn thuế, EuroCham đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu cơ chế thuế suất đơn giản hoặc thuế suất cố định đối với hàng hóa giá trị thấp.

Cách tiếp cận này hướng đến việc vẫn thực hiện nghĩa vụ thuế nhưng giảm đáng kể yêu cầu phân loại chi tiết từng mặt hàng và hạn chế tác động đến thời gian thông quan.

Đáng chú ý, EuroCham cũng chỉ ra vấn đề cần được nhìn trong tổng thể hệ thống chính sách. Dự thảo Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua thương mại điện tử đề xuất tiếp tục duy trì ngưỡng miễn thuế dưới 1 triệu đồng. Trong khi đó, dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đề xuất bỏ ngưỡng miễn thuế đối với hàng hóa giá trị thấp nhập khẩu qua dịch vụ chuyển phát nhanh.

Trong đó, các nhóm hàng hóa này có những điểm tương đồng về giá trị, quy mô giao dịch và mức độ rủi ro. Vì vậy, việc áp dụng các chính sách khác nhau cần được đánh giá để bảo đảm tính nhất quán của hệ thống.

Từ phía cơ quan Hải quan, một số ý kiến cũng đặt vấn đề về cách thiết kế ngưỡng và cơ chế kiểm soát. Chi cục Hải quan khu vực VIII đề nghị cân nhắc nâng các ngưỡng về trị giá và số tiền thuế tối thiểu để phù hợp với mặt bằng giá, chi phí quản lý và chi phí tuân thủ hiện hành. Đồng thời, đơn vị đề nghị nghiên cứu cơ chế nhận diện trường hợp chia tách giả tạo nhiều lô hàng nhỏ nhằm hưởng ngưỡng miễn thuế, dựa trên các dữ liệu như người gửi, người nhận, đơn hàng, phương tiện, thời điểm hoặc giao dịch thương mại.

Đây là vấn đề quan trọng bởi nếu chính sách dựa vào ngưỡng giá trị thì việc kiểm soát hành vi chia nhỏ lô hàng sẽ trở thành một phần của cơ chế quản lý.

Trong khi đó, Ban Pháp chế đề nghị đánh giá đầy đủ chi phí thực hiện thủ tục khi mở rộng phạm vi thu thuế đối với hàng hóa giá trị nhỏ và nghiên cứu cơ chế thu thuế đơn giản hơn đối với nhóm hàng này.

Như vậy, các ý kiến đang hình thành hai yêu cầu song song. Một mặt, chính sách phải hạn chế khoảng cách về nghĩa vụ thuế giữa hàng hóa mua qua nền tảng xuyên biên giới và hàng hóa lưu thông qua hệ thống thương mại truyền thống. Mặt khác, cơ chế quản lý phải tương xứng với giá trị và mức độ rủi ro của từng nhóm hàng.

Đây chính là điểm khó của chính sách hàng hóa giá trị nhỏ. Nếu đặt ngưỡng quá rộng, có thể phát sinh khoảng trống quản lý hoặc hành vi lợi dụng chính sách. Nhưng nếu mọi lô hàng đều được xử lý giống hàng hóa thương mại thông thường, chi phí quản lý và chi phí tuân thủ có thể tăng mạnh.

Từ góc độ xây dựng chính sách, theo cơ quan soạn thảo đây cũng là nhóm quy định cho thấy rõ nhất yêu cầu chuyển từ cách quản lý dựa đơn thuần vào từng lô hàng sang quản lý dựa trên dữ liệu, mức độ rủi ro và chi phí tuân thủ.

Khi thương mại điện tử xuyên biên giới tiếp tục phát triển, hàng triệu giao dịch nhỏ sẽ trở thành một phần ngày càng quan trọng của hoạt động xuất nhập khẩu. Khi đó, hiệu quả của chính sách không chỉ được đo bằng số thu ngân sách, mà còn bằng khả năng xử lý nhanh, minh bạch và tương xứng với rủi ro.

Đây là lý do việc hoàn thiện quy định về hàng hóa giá trị nhỏ trong Nghị định mới cần được đặt trong tổng thể cải cách thủ tục hải quan, quản lý chuyên ngành và tạo thuận lợi thương mại, thay vì chỉ xem đây là bài toán điều chỉnh một ngưỡng miễn thuế.

EuroCham cũng đề nghị trước khi ban hành chính sách chính thức cần đánh giá tác động toàn diện đối với thủ tục hải quan, kiểm tra chuyên ngành, thời gian thông quan, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và năng lực xử lý của cơ quan quản lý. EuroCham kỳ vọng, cơ quan soạn thảo tiếp tục tổ chức các phiên tham vấn kỹ thuật với cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội logistics, doanh nghiệp chuyển phát nhanh và thương mại điện tử.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Dự án đầu tư được hoàn thuế GTGT nếu đáp ứng đủ điều kiện

Dự án đầu tư được hoàn thuế GTGT nếu đáp ứng đủ điều kiện

Theo Cục Thuế, trường hợp tại thời điểm nộp hồ sơ, cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư, có số thuế GTGT đầu vào đáp ứng đầy đủ điều kiện khấu trừ, hoàn thuế và có hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo quy định thì được xem xét giải quyết hoàn thuế.
Gỗ sơ chế thông thường không chịu thuế GTGT ở khâu sản xuất và nhập khẩu

Gỗ sơ chế thông thường không chịu thuế GTGT ở khâu sản xuất và nhập khẩu

Theo hướng dẫn của Cục Thuế, gỗ tròn, thanh gỗ đã qua các công đoạn cưa, xẻ theo quy cách nhưng chưa qua bào trơn, ngâm tẩm hóa chất bảo quản và sấy được xác định là sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường, thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) ở khâu sản xuất bán ra và khâu nhập khẩu.
Xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với lãi tiền gửi, tiền bồi thường

Xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với lãi tiền gửi, tiền bồi thường

Theo Cục Thuế, việc xác định khoản lãi tiền gửi có kỳ hạn và tiền bồi thường hiệu suất tuabin có thuộc phạm vi thu nhập được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cần căn cứ quy định pháp luật, hồ sơ quyết toán thuế và mối liên hệ thực tế với hoạt động của dự án.
Doanh nghiệp chế xuất tái xuất nguyên liệu chưa sử dụng thế nào?

Doanh nghiệp chế xuất tái xuất nguyên liệu chưa sử dụng thế nào?

Trường hợp doanh nghiệp chế xuất tái xuất nguyên liệu, vật tư nhập khẩu chưa sử dụng do thay đổi kế hoạch sản xuất thì thực hiện thủ tục xuất khẩu theo quy định, không phải đăng ký tờ khai thay đổi mục đích sử dụng.
Đưa chính sách thuế xuất nhập khẩu về đúng dòng chảy hàng hóa

Đưa chính sách thuế xuất nhập khẩu về đúng dòng chảy hàng hóa

Từ nguyên liệu mua trong nước, hàng hóa nhập khẩu tại chỗ đến sản phẩm thực tế xuất khẩu, các ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đang tập trung làm rõ yêu cầu: Chính sách thuế phải phản ánh đúng nguồn gốc, quá trình sử dụng và kết quả thực tế của hàng hóa.
Dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất khi nào được áp dụng thuế GTGT 0%?

Dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất khi nào được áp dụng thuế GTGT 0%?

Dịch vụ cung cấp trực tiếp cho doanh nghiệp chế xuất, được tiêu dùng trong khu phi thuế quan và phục vụ hoạt động sản xuất xuất khẩu có thể được áp dụng thuế giá trị gia tăng 0% nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Tuy nhiên, một số dịch vụ như cho thuê nhà, văn phòng, kho bãi và đưa đón người lao động không thuộc diện áp dụng mức thuế suất này.
N2O làm phụ gia thực phẩm thuộc mã HS nào?

N2O làm phụ gia thực phẩm thuộc mã HS nào?

Đây là nội dung Công ty TNHH thương mại dịch vụ B&B supplier đề nghị Cục Hải quan hướng dẫn khi chuẩn bị nhập khẩu mặt hàng Nitrous Oxide (N2O) dạng viên nén 8g làm phụ gia thực phẩm.
Xuất khẩu có thuế GTGT đầu vào từ 300 triệu đồng được xem xét hoàn thuế

Xuất khẩu có thuế GTGT đầu vào từ 300 triệu đồng được xem xét hoàn thuế

Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được xem xét hoàn thuế theo tháng, quý, với điều kiện đáp ứng các quy định về khấu trừ, hoàn thuế GTGT.
Túi vô trùng nhập khẩu phải kiểm tra an toàn thực phẩm

Túi vô trùng nhập khẩu phải kiểm tra an toàn thực phẩm

Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế ) xác định, túi vô trùng dùng đựng thực phẩm thuộc danh mục phải kiểm tra và không thuộc diện miễn thì phải thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm khi nhập khẩu.
Quản lý khu phi thuế quan từ dữ liệu và bản chất hàng hóa

Quản lý khu phi thuế quan từ dữ liệu và bản chất hàng hóa

Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 134/2016/NĐ-CP đang đặt yêu cầu rõ hơn đối với điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan tại khu phi thuế quan, đồng thời các ý kiến góp ý đề nghị việc xử lý thuế phải căn cứ vào khả năng quản lý thực tế và dòng vận động của hàng hóa.
Ranh giới giữa sửa chữa và hoạt động chế xuất

Ranh giới giữa sửa chữa và hoạt động chế xuất

Vướng mắc của Compal liên quan đến việc xác định hoạt động sửa chữa hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có thuộc phạm vi hoạt động chế xuất. Bộ Tài chính cho rằng việc xác định phải căn cứ nội dung, tính chất hoạt động và các quy định pháp luật liên quan.
Hải quan lấy ý kiến quy định mới về thủ tục, kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan

Hải quan lấy ý kiến quy định mới về thủ tục, kiểm tra, giám sát và kiểm soát hải quan

Cục Hải quan đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định và Thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Hải quan, với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung về thủ tục, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, quản lý rủi ro và chuyển đổi số.
Tách rõ từng thông tin trong khai báo phương tiện, hành khách và hàng hóa

Tách rõ từng thông tin trong khai báo phương tiện, hành khách và hàng hóa

Thông tư số 127/2026/TT-BTC quy định cụ thể các trường thông tin khai báo theo từng loại hình vận tải, từ người điều khiển, nhận dạng phương tiện, chủ phương tiện đến hành khách, vận đơn, hàng hóa và container, tạo cơ sở thống nhất dữ liệu khai báo trên hệ thống.
Dự thảo Luật ATTP (sửa đổi): Tăng nhận diện và mở rộng kiểm soát thực phẩm giả

Dự thảo Luật ATTP (sửa đổi): Tăng nhận diện và mở rộng kiểm soát thực phẩm giả

Từ kiểm soát từng sản phẩm sang quản lý rủi ro trong suốt chuỗi cung ứng, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (ATTP) sửa đổi đặt ra yêu cầu cao hơn đối với dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và năng lực thu hồi. Trọng tâm không nằm ở việc có thêm một mã để quét, mà ở khả năng nhận diện đúng đối tượng, ghi nhận đúng sự kiện và sử dụng dữ liệu để hành động khi có nguy cơ.
Hoàn thiện quy định về chứng từ điện tử trong thủ tục hải quan

Hoàn thiện quy định về chứng từ điện tử trong thủ tục hải quan

Nghị định số 336/2026/NĐ-CP chuẩn hóa chứng từ điện tử trong Cơ chế một cửa quốc gia, đồng thời đặt yêu cầu về tính hợp pháp, toàn vẹn và khả năng truy xuất khi chứng từ được chuyển đổi giữa bản điện tử và bản giấy.