![]() |
| Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và chịu trách nhiệm về tính chính xác. Ảnh: H.Nụ |
Công ty TNHH Yamaha Logistics Việt Nam cho biết, theo quy định, trị giá hải quan hàng xuất khẩu là giá bán tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí vận tải và bảo hiểm quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế doanh nghiệp phát sinh một số vướng mắc khi xác định chi phí vận tải tại thời điểm đăng ký tờ khai.
Đối với hàng CIF/CFR, tại thời điểm đăng ký tờ khai, hàng chưa được cân, đo chính thức nên chưa xác định được chargeable weight/CBM và cước vận tải quốc tế thực tế. Doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng cước dự kiến để khấu trừ khỏi giá CIF/CFR.
Đối với hàng EXW, chi phí vận chuyển từ địa điểm giao hàng đến cửa khẩu xuất cần được cộng vào trị giá hải quan. Tuy nhiên, có trường hợp người mua chỉ định forwarder và thanh toán cước, người xuất khẩu thường không biết và không có chứng từ về khoản chi phí này tại thời điểm khai báo. Nếu sử dụng chi phí dự kiến, khi có chi phí thực tế sau thông quan thường phát sinh chênh lệch.
Từ thực tế trên, doanh nghiệp đề nghị cơ quan Hải quan hướng dẫn việc sử dụng chi phí vận tải dự kiến có căn cứ tại thời điểm đăng ký tờ khai để xác định trị giá hải quan; khi có chi phí thực tế và phát sinh chênh lệch so với số dự kiến thì có phải khai bổ sung trị giá cho từng tờ khai hay không; đồng thời hướng dẫn cách xác định trị giá đối với hàng EXW mà người xuất khẩu không có thông tin về chi phí vận chuyển do người mua thanh toán.
Trả lời vướng mắc của doanh nghiệp, đại diện Cục Hải quan cho biết, khoản 1 Điều 20 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 8 Điều 1 Nghị định số 167/2025/NĐ-CP; Điều 4 Thông tư số 39/2015/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC quy định, đối với hàng hóa xuất khẩu, trị giá hải quan là giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế và phí vận tải quốc tế, được xác định trên cơ sở trị giá thực tế của hàng hóa tại cửa khẩu xuất.
Việc xác định trị giá hải quan phải căn cứ vào chứng từ, tài liệu, số liệu khách quan, định lượng được. Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính trung thực của nội dung tự kê khai và tự xác định trị giá hải quan.
Đại diện Cục Hải quan cũng dẫn quy định về thời hạn nộp tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu. Theo đó, việc nộp tờ khai được thực hiện sau khi hàng hóa đã tập kết tại địa điểm do người khai hải quan thông báo và chậm nhất 4 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh, thời hạn là chậm nhất 2 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh.
Từ quy định về thời điểm nộp tờ khai, đại diện Cục Hải quan hướng dẫn, đối với các trường hợp hàng hóa xuất khẩu theo các điều kiện giao hàng khác nhau như CIF/CFR hoặc EXW, người khai hải quan đã xác định được các khoản chi phí dự kiến sẽ phát sinh theo từng điều kiện giao hàng.
Do đó, doanh nghiệp cần phối hợp với bên đối tác nhập khẩu trong trường hợp người khai hải quan trực tiếp làm thủ tục hải quan xuất khẩu; hoặc các bên được thuê dịch vụ như công ty forwarder, logistics, đại lý hải quan trong trường hợp thuê làm thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hóa.
Các bên liên quan cần cung cấp các khoản chi phí phát sinh thực tế và chứng từ kèm theo để làm căn cứ xác định trị giá hải quan hàng hóa xuất khẩu tính đến cửa khẩu xuất trước khi nộp tờ khai hải quan.
Đối với trường hợp trị giá hải quan chưa được xác định đúng theo quy định của pháp luật về trị giá hải quan, theo đại diện Cục Hải quan, người khai hải quan được sửa đổi, bổ sung theo khoản 4 Điều 29 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 và Điều 20 Thông tư số 38/2015/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 8 Điều 1 Thông tư số 121/2025/TT-BTC, đối với từng tờ khai xuất khẩu và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nếu có.
Theo đó, đối với hàng hóa đã được thông quan, người khai hải quan được khai bổ sung trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan và trước thời điểm cơ quan Hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra, trừ các trường hợp theo quy định. Quá thời hạn này, nếu người khai hải quan mới phát hiện sai sót trong khai hải quan thì thực hiện khai bổ sung và xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.