![]() |
| Miễn một số điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo từ ngày 1/10/2026. Ảnh minh họa: Minh Hà. |
Nghị định số 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, thay thế Nghị định số 107/2018/NĐ-CP và Nghị định số 01/2025/NĐ-CP. Điểm đáng chú ý của văn bản không chỉ nằm ở việc điều chỉnh thủ tục cấp giấy chứng nhận, mà còn tạo thêm dư địa cho một số sản phẩm gạo có giá trị gia tăng, đồng thời bổ sung công cụ để cơ quan quản lý theo dõi hoạt động xuất, nhập khẩu và năng lực thực hiện của thương nhân.
Theo Điều 3 Nghị định 365/2026/NĐ-CP, thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng không phải đáp ứng điều kiện về kho chuyên dùng chứa thóc, gạo và cơ sở xay xát như thương nhân xuất khẩu gạo thông thường. Thay vào đó, thương nhân được xuất khẩu các loại gạo này mà không cần Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo; đồng thời không phải duy trì dự trữ lưu thông và thực hiện trách nhiệm báo cáo quy định tại Điều 25 của nghị định.
Đây là thay đổi có ý nghĩa đối với doanh nghiệp tập trung vào sản phẩm chuyên biệt, khi phạm vi kinh doanh là những dòng gạo được nghị định xác định rõ, việc không phải đầu tư hoặc thuê kho, cơ sở xay xát chỉ để đáp ứng điều kiện cấp giấy chứng nhận có thể giúp giảm chi phí gia nhập thị trường.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, quy định này nhằm khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm và nâng giá trị gia tăng của hạt gạo Việt Nam; đồng thời tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu các dòng gạo chất lượng cao, gạo đặc sản, góp phần nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, quy định miễn trừ cần được hiểu đúng theo từng loại gạo xuất khẩu, không áp dụng chung cho mọi hoạt động kinh doanh của một thương nhân. Với gạo xuất khẩu thông thường, Nghị định vẫn yêu cầu thương nhân có ít nhất một kho chuyên dùng chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Theo đó, kho và cơ sở xay xát có thể thuộc sở hữu của thương nhân hoặc được thuê bằng hợp đồng văn bản; thương nhân đã sử dụng các cơ sở này để được cấp giấy chứng nhận không được cho thương nhân khác thuê chính các cơ sở đó để đề nghị cấp giấy chứng nhận.
Việc giảm điều kiện kinh doanh cũng không đồng nghĩa giảm yêu cầu đối với hàng hóa. Điều 17 quy định gạo xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, bao bì, ghi nhãn, đóng gói, bảo quản và truy xuất nguồn gốc theo quy định của nước nhập khẩu, trừ trường hợp nhà nhập khẩu có yêu cầu khác. Thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng vẫn phải tuân thủ quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sản xuất, chế biến và bảo quản.
Một thay đổi trong cách quản lý là thương nhân tự kê khai và chịu trách nhiệm về hồ sơ, điều kiện kinh doanh. Sau khi Bộ Công Thương cấp giấy chứng nhận, địa phương nơi có kho chuyên dùng tổ chức hậu kiểm trong thời hạn 45 ngày. Doanh nghiệp kê khai phải phản ánh đúng năng lực thực tế như: thủ tục được giải quyết theo hồ sơ, đồng thời điều kiện về kho và cơ sở xay xát sẽ tiếp tục được kiểm tra sau khi cấp giấy.
![]() |
| Gạo xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, bao bì, ghi nhãn, đóng gói, bảo quản và truy xuất nguồn gốc. Ảnh minh họa: Minh Hà. |
Ở chiều nhập khẩu, thương nhân phải thông báo kế hoạch nhập khẩu gạo với Bộ Công Thương; phải gửi thông báo bổ sung khi có thay đổi. Nghị định cũng quy định chế độ báo cáo định kỳ theo quý, năm và báo cáo đột xuất về tình hình kinh doanh nhập khẩu. Theo điều khoản chuyển tiếp, thương nhân kinh doanh nhập khẩu gạo có 45 ngày kể từ ngày nghị định có hiệu lực để thực hiện đăng ký kế hoạch nhập khẩu với Bộ Công Thương.
Song song với báo cáo của doanh nghiệp, Bộ Tài chính cung cấp dữ liệu xuất, nhập khẩu gạo định kỳ vào ngày 15 hằng tháng hoặc ngày làm việc liền kề tiếp theo nếu trùng ngày nghỉ. Dữ liệu bao gồm lượng, trị giá, tên hàng theo khai báo và các thông tin về đối tác, cửa khẩu, ngày đăng ký tờ khai. Việc kết hợp kế hoạch của thương nhân với số liệu thực tế tạo cơ sở để theo dõi dòng gạo vào, ra thị trường.
Nghị định còn thiết lập cơ chế đánh giá mức độ tín nhiệm của thương nhân xuất khẩu gạo theo thang 100 điểm và năm mức, từ “rất cao” đến “rất thấp”. Các tiêu chí trải rộng từ việc thực hiện nghĩa vụ thuế, mức độ tuân thủ pháp luật hải quan, kết quả xuất khẩu, duy trì dự trữ và báo cáo, đến xây dựng vùng nguyên liệu, thương hiệu, hệ thống kho và logistics.
Trên cơ sở những đánh giá này, Bộ Công Thương tổng hợp, công bố mức độ tín nhiệm; kết quả này cũng là một trong các tiêu chí xem xét thương nhân tham gia hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung.
Tuy nhiên, cơ chế đánh giá tín nhiệm chưa áp dụng ngay từ ngày 1/10/2026 do điều khoản chuyển tiếp xác định việc đánh giá theo Điều 14 bắt đầu từ ngày 1/1/2028, khoảng cách này tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động chuẩn bị hồ sơ tuân thủ và năng lực kinh doanh.
Một thuận lợi nữa cho doanh nghiệp là các giấy chứng nhận đã cấp theo quy định trước đây tiếp tục có giá trị đến hết thời hạn, không phải đồng loạt xin cấp lại khi Nghị định mới có hiệu lực.
Nhìn tổng thể, Nghị định 365/2026/NĐ-CP mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp phát triển gạo chuyên biệt, trong khi yêu cầu hậu kiểm, dự trữ và theo dõi luồng hàng vẫn gắn hoạt động kinh doanh với trách nhiệm đối với thị trường trong nước. Hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào việc doanh nghiệp tận dụng khoảng mở về điều kiện kinh doanh để nâng chất lượng sản phẩm, thay vì chỉ giảm chi phí thủ tục.