![]() |
| TMĐT xuyên biên giới được xem là động lực chiến lược cho xuất khẩu quốc gia. |
Cấu phần quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu
Với đà phát triển mạnh của TMĐT, TMĐT xuyên biên giới được đánh giá không chỉ là xu hướng quan trọng trong bài toán kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là động lực chiến lược cho xuất khẩu quốc gia và được đưa vào Kế hoạch GoGlobal do Chính phủ chỉ đạo thực hiện.
Tại Diễn đàn Toàn cảnh Thương mại điện tử và Thương mại điện tử xuyên biên giới – Hướng đi cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam được tổ chức hồi tháng 9/2025, Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng nhấn mạnh, năm 2024, quy mô thị trường TMĐT xuyên biên giới toàn cầu đạt 791,5 tỷ USD và dự báo tăng trưởng trên 30% trong giai đoạn tiếp theo.
Các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang mở rộng sự hiện diện trực tuyến tại nhiều thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng thời tìm kiếm cơ hội tại các thị trường tiềm năng mới như ASEAN, Trung Đông, Nga hay Úc.
Thứ trưởng Thắng cho biết, theo Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026- 2030, TMĐT xuyên biên giới là một trong những trụ cột chiến lược của giai đoạn tới, với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái xuất khẩu số bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam và đưa hàng Việt vươn xa hơn trên bản đồ thương mại toàn cầu.
Ông Bùi Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM) dẫn số liệu từ Báo cáo xuất nhập khẩu 2024 cho thấy, tổng giá trị xuất nhập khẩu qua TMĐT của Việt Nam đạt 4,1 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD. Sang năm 2025, xuất khẩu qua kênh này được dự báo tăng 18%, đạt khoảng 2 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua TMĐT lên 4,45 tỷ USD.
Những con số này cho thấy, TMĐT xuyên biên giới đã vượt ra khỏi giai đoạn thử nghiệm hay phong trào, để trở thành một cấu phần thực chất trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Theo Phó Chủ tịch VECOM, trong giai đoạn phát triển mới, xuất khẩu trực tuyến cần được xác định là trụ cột tăng trưởng, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa Việt Nam, mở rộng thị trường và tăng khả năng chống chịu của doanh nghiệp trước những biến động toàn cầu.
Thách thức từ thanh toán xuyên biên giới
Tuy nhiên, theo đánh giá, xuất khẩu qua sàn TMĐT đang đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó có thách thức đến từ hạ tầng thanh toán xuyên biên giới.
Việc phát triển TMĐT xuyên biên giới hiệu quả không thể tách rời khỏi hệ thống thanh toán xuyên biên giới - yếu tố then chốt quyết định tỷ lệ chuyển đổi đơn hàng thành giao dịch thực sự.
Hiện nay, thanh toán được đánh giá là khâu phức tạp và rủi ro nhất trong chuỗi TMĐT xuyên biên giới. Doanh nghiệp Việt Nam hiện phụ thuộc lớn vào các nền tảng và cổng thanh toán quốc tế, từ khâu thu tiền người mua, giữ tiền, khấu trừ phí đến chuyển đổi ngoại tệ.
![]() |
| Doanh nghiệp trong nước đang đối mặt nhiều vấn đề nổi bật trong thanh toán xuyên biên giới. |
Các vấn đề nổi bật trong thanh toán xuyên biên giới có thể kể đến như: chi phí thanh toán cao, nhiều tầng phí (phí nền tảng, phí xử lý, phí chuyển tiền, phí đổi ngoại tệ); thời gian hoàn tiền dài, ảnh hưởng đến dòng tiền và khả năng quay vòng vốn; rủi ro tỷ giá do doanh nghiệp không kiểm soát được thời điểm và tỷ giá quy đổi; hạn chế về khung pháp lý cho thanh toán số và ví điện tử xuyên biên giới, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận trực tiếp người mua quốc tế…
Liên quan đến những khó khăn trong thanh toán xuyên biên giới nói chung, tại hội thảo “Thanh toán xuyên biên giới: Xu hướng toàn cầu và giải pháp cho Việt Nam”, dẫn số liệu từ Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), ông Trần Huyền Dinh, Chủ nhiệm Ủy ban Ứng dụng Fintech VBA, Giám đốc dự án Basal Pay thuộc AlphaTrue Solutions cho biết, nhu cầu giao dịch xuyên biên giới đang trở thành một dòng chảy khổng lồ, giữ vai trò cốt lõi trong hệ thống tài chính quốc tế. Tuy nhiên, các “đường ray” chủ đạo hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế.
Cụ thể, theo ông Trần Huyền Dinh, mạng ngân hàng đại lý qua SWIFT được coi là trục xương sống cho giao dịch B2B quy mô lớn, song chi phí cao và thời gian xử lý kéo dài từ vài giờ đến vài ngày do phải qua nhiều tầng trung gian.
Bên cạnh đó, các dịch vụ chuyển tiền quốc tế như Western Union, MoneyGram có mức phí cao và thiếu minh bạch thời gian thực; mạng lưới thẻ quốc tế Visa, Mastercard đem lại tiện lợi cho du lịch và bán lẻ, song tổng chi phí toàn cầu phát sinh ước tính lên tới 187 tỷ USD mỗi năm.
Chia sẻ về rào cản thanh toán xuyên biên giới đối với TMĐT, ông Nguyễn Bình Minh, Trưởng ban Phát triển nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) chỉ ra rằng các ví điện tử và trung gian thanh toán của Việt Nam hiện chưa có giấy phép hoạt động hoặc sự hiện diện tại các thị trường quốc tế trọng điểm.
Điều này buộc các doanh nghiệp xuất khẩu phải phụ thuộc vào các công cụ thanh toán quốc tế sẵn có. Tuy nhiên, các công cụ này thường có mức phí cao, trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh về giá của hàng hóa Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Bên cạnh đó, vấn đề tỷ giá là một trở ngại lớn khi doanh nghiệp rút tiền về nước; sự chênh lệch tỷ giá không hợp lý gây ra thiệt thòi tài chính đáng kể cho doanh nghiệp.
Việc phụ thuộc vào công cụ của các sàn thương mại điện tử nước ngoài khiến doanh nghiệp Việt Nam không thể làm chủ được quy trình thanh toán và phải chấp nhận các điều khoản về tỷ giá và phí do phía nước đối tác quy định.
Xây dựng hạ tầng kết nối thanh toán hiện đại
Chia sẻ với phóng viên, đại diện một doanh nghiệp đang xuất khẩu các sản phẩm gỗ, mỹ nghệ trên sàn TMĐT cho biết, hiện doanh nghiệp đã và đang xuất khẩu các đơn hàng qua sàn Amazon.
Theo đại diện doanh nghiệp, thực tế, khi tham gia kinh doanh trên các sàn TMĐT quốc tế, doanh nghiệp trong nước buộc phải tuân thủ “luật chơi” do nền tảng đặt ra. Các sàn này là bên làm chủ cuộc chơi khi họ xây dựng và vận hành nền tảng, đồng thời toàn quyền quy định các điều kiện giao dịch, trong đó có thời hạn thanh toán, chu kỳ đối soát và chuyển tiền.
Doanh nghiệp chỉ có thể lựa chọn tham gia nếu chấp nhận các điều khoản của họ; ngược lại, nếu không phù hợp thì buộc phải đứng ngoài. Các nền tảng TMĐT quốc tế vận hành với mức độ độc lập rất cao, trong khi dư địa đàm phán, thương lượng của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.
Theo các chuyên gia, trong thương mại truyền thống (B2B) với khối lượng hàng hóa lớn, chi phí thanh toán qua các phương thức như LC (thư tín dụng) không phải là vấn đề quá lớn... Ngược lại, với loại hình B2C (bán lẻ trực tiếp đến người tiêu dùng), các giao dịch thường có giá trị nhỏ (chỉ 1-2 triệu đồng) nhưng lại chịu phí thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc phí trung gian cao theo tỷ lệ phần trăm, tạo nên gánh nặng lớn cho người bán. Hiện tại, lượng giao dịch B2C chưa đủ lớn để các doanh nghiệp thanh toán mở các kênh trực tuyến riêng biệt tại từng quốc gia.
Hiện nay khung pháp lý cho thanh toán số và ví điện tử xuyên biên giới chưa hoàn thiện. Các quy định hiện hành chủ yếu được xây dựng cho thanh toán trong nước, giao dịch thương mại truyền thống, quản lý ngoại hối theo mô hình cũ.
Trong khi đó, xuất khẩu trực tuyến đòi hỏi cơ chế linh hoạt hơn, cho phép doanh nghiệp trong nước thu tiền trực tiếp từ người mua quốc tế, các ngân hàng và fintech Việt tham gia sâu vào chuỗi thanh toán đồng thời kết nối an toàn với các hệ thống thanh toán toàn cầu.
Chính khoảng trống pháp lý này khiến doanh nghiệp Việt khó phát triển các giải pháp thanh toán độc lập, buộc phải tiếp tục phụ thuộc vào hệ sinh thái nước ngoài.
![]() |
| Việt Nam cần phát triển các trung gian thanh toán có khả năng hoạt động quốc tế. |
Khuyến nghị về định hướng giải pháp hoàn thiện chính sách thanh toán xuyên biên giới, chuyên gia Nguyễn Bình Minh cho rằng, Việt Nam cần nghiên cứu phát triển các trung gian thanh toán có khả năng hoạt động quốc tế và đẩy mạnh các thỏa thuận hợp tác song phương.
Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng một kênh chính sách riêng để hỗ trợ thanh toán điện tử, đồng thời thúc đẩy kết nối với các thị trường trọng điểm như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và EU.
Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu không tháo gỡ được nút thắt thanh toán, TMĐT xuyên biên giới khó có thể mở rộng quy mô một cách bền vững. Trọng tâm phải là xây dựng hạ tầng kết nối thanh toán hiện đại, bảo đảm sự liên thông giữa các ngân hàng, tổ chức tài chính, doanh nghiệp và các nền tảng công nghệ.
Kết nối thanh toán xuyên biên giới là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, để thúc đẩy hình thức thanh toán này, cần đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường phối hợp liên ngành và mở rộng hợp tác quốc tế.