Thứ ba 27/10/2026 06:31
Thời tiết: Hà Nội 25°C
Đà Nẵng 24°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 25°C
TP Hồ Chí Minh 27°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Diễn đàn
aa

Bài 7. Bàn về mô hình thực hiện chức năng quản lý tuân thủ thuế tại Việt Nam

Với sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử, công nghệ thông tin và số lượng DN, việc hình thành một bộ phận quản lý tuân thủ người nộp thuế tập trung, thống nhất, chuyên sâu sẽ tạo động lực cho cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế và nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế.
bai 7 ban ve mo hinh thuc hien chuc nang quan ly tuan thu thue tai viet nam

Kinh nghiệm quốc tế

Hiện nay các cơ quan thuế đều áp dụng biện pháp quản lý rủi ro (QLRR), chủ yếu tập trung vào việc lựa chọn người nộp thuế cần kiểm tra, thanh tra thuế. Đến nay, các nước đã thay đổi về cách thức quản lý người nộp thuế, tiếp cận theo hướng tổng thể, toàn diện hơn (quản lý tuân thủ tổng thể người nộp thuế). Theo đó, việc quản lý người nộp thuế không chỉ tập trung vào nhóm người nộp thuế tuân thủ thấp hoặc không tuân thủ về thuế mà dựa trên đánh giá, phân loại mức độ tuân thủ để có biện pháp quản lý phù hợp với từng mức độ tuân thủ hướng đến tăng cường tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế.

Nhiều cơ quan thuế các nước như Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Hàn Quốc, Malaysia từ lâu đã áp dụng theo mô hình chung về quản lý rủi ro tuân thủ (gọi tắt là quản lý tuân thủ) xây dựng bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Theo OECD, việc áp dụng quản lý tuân thủ người nộp thuế cần hướng tới xu hướng chung là xây dựng kế hoạch, chương trình quản lý tuân thủ tổng thể hiệu quả, trong đó quản lý tuân thủ của người nộp thuế (người nộp thuế) sẽ được chia thành nhiều phân đoạn, xác định các rủi ro chính yếu cho từng phân đoạn, xác định các nguyên nhân chính dẫn đến việc không tuân thủ trong từng phân đoạn, từ đó có biện pháp quản lý phù hợp.

Theo khuyến nghị của chuyên gia quốc tế (OECD, WB, IMF…), với mô hình quản lý thuế vừa thực hiện quản lý theo chức năng vừa kết hợp quản lý theo đối tượng tại nhiều nước như hiện nay, thì việc xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý rủi ro tuân thủ cần đi từ tổng thể đến chi tiết, để đảm bảo tính liên thông, hiệu quả và thống nhất giữa các khâu trong quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế, giữa các phân đoạn người nộp thuế (DN lớn, nhỏ, vừa, tổ chức, hộ cá nhân kinh doanh...). Trong đó, lấy quản lý tuân thủ người nộp thuế là mục tiêu cao nhất để thực hiện. Để từ đó, xây dựng các biện pháp, quy trình nghiệp vụ QLRR cụ thể áp dụng đối với từng khâu trong quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế và áp dụng đối với từng phân đoạn người nộp thuế cụ thể (trong mỗi phân đoạn người nộp thuế sẽ có một kế hoạch nâng cao tuân thủ riêng).

Để triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý tuân thủ một cách toàn diện, trong mô hình quản lý của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực hiện nay như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Nhật Bản, Ca-na-đa, Trung Quốc, Malaxia, Singapore đều có một đơn vị độc lập thực hiện nhiệm vụ quản lý tuân thủ người nộp thuế, đặt ở cấp Tổng cục. Qua nghiên cứu mô hình tổ chức tại cơ quan thuế của các nước này cho thấy, Cục Quản lý tuân thủ một đơn vị “cốt lõi”, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch tuân thủ. Trong đó, tập trung vào các sắc thuế chính và các nghĩa vụ thuế, phân đoạn người nộp thuế (người nộp thuế lớn, vừa, nhỏ và siêu nhỏ) để thực hiện quản lý tuân thủ.

Đối với từng phân đoạn người nộp thuế, phụ thuộc vào ý thức tuân thủ của người nộp thuế, sẽ áp dụng các cơ chế quản lý riêng như tập trung vào công tác tuyên truyền hỗ trợ hay tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tạo điều kiện thuận lợi hay áp dụng các chế tài đặc biệt đối với người nộp thuế dựa trên phương pháp đánh giá rủi ro, từ đó, cải thiện mức độ tuân thủ tổng thể đối với các nhóm người nộp thuế và các nghĩa vụ thuế khác nhau.

Chiến lược tuân thủ là cơ sở để cơ quan thuế xây dựng công cụ để đo lường tính tuân thủ của người nộp thuế, phân đoạn người nộp thuế để quản lý. Từ đó, xây dựng các biện pháp, phương pháp quản lý phù hợp, như áp dụng biện pháp quản lý rủi ro để quản lý với mục tiêu tối ưu hóa nguồn lực và cơ sở vật chất có hạn của cơ quan thuế, tránh việc sử dụng dàn trải, lãng phí nguồn lực và không đem lại hiệu quả trong việc nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế.

Trong bối cảnh các chức năng quản lý thuế chính như đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và quản lý, thông báo nợ thuế từng bước được tự động hóa dựa trên cơ sở nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin thì mô hình quản lý rủi ro tuân thủ người nộp thuế được lựa chọn áp dụng tại hầu hết các nước trên thế giới là có tổ chức bộ phận quản lý tuân thủ. Mục đích của mô hình quản lý tuân thủ là để nhận diện, phân tích, phân đoạn người nộp thuế để từ đó sử dụng có hiệu quả nguồn lực quản lý thuế.

bai 7 ban ve mo hinh thuc hien chuc nang quan ly tuan thu thue tai viet nam

Cần hình thành bộ phận quản lý tuân thủ tập trung

Tại Việt Nam, khái niệm “quản lý tuân thủ” cũng đã được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Trong đó, tại Thông tư số 31/2021/TT-BTC ngày 17/5/2021 của Bộ Tài chính có quy định: ““Quản lý tuân thủ pháp luật thuế” là việc cơ quan thuế thực hiện đánh giá tuân thủ pháp luật thuế, phân loại mức độ rủi ro, phân tích hành vi của người nộp thuế, từ đó sử dụng nguồn lực hợp lý cho các biện pháp quản lý phù hợp với từng mức độ, nhằm khuyến khích tuân thủ và phòng ngừa hành vi không tuân thủ” (khoản 7, Điều 3).

Theo quy định của Luật Quản lý thuế năm 2019, nhiệm vụ đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế và phân loại mức độ rủi ro trong quản lý thuế cũng đã được quy định cụ thể.

Theo đó, công tác quản lý rủi ro tuân thủ pháp luật của người nộp thuế là nhiệm vụ quan trọng, được thực hiện xuyên suốt trong các chức năng của quản lý thuế từ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế đến hoàn thuế, thanh tra, kiểm tra thuế… Có thể nói, “quản lý tuân thủ pháp luật thuế” là nhiệm vụ của cơ quan thuế cần triển khai, thực hiện. Để thực hiện nhiệm vụ này, ngành thuế cần nghiên cứu, xây dựng các biện pháp, nghiệp vụ quản lý rủi ro, phân đoạn, quản lý người nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế tự nguyện tuân thủ tốt các quy định của pháp luật về thuế, đồng thời phòng chống, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về thuế và quản lý thuế.

Trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng cục Thuế (ban hành kèm theo Quyết định số 41/2018/QĐ-TTg ngày 25/9/2018 và Quyết định số 15/2021/QĐ-TTg ngày 30/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ) hiện chưa có đơn vị nào có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền tham mưu, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế quản lý tuân thủ pháp luật thuế.

Hiện nay, nhiệm vụ QLRR đang được Bộ Tài chính giao cho Ban QLRR (ban mềm) thuộc Tổng cục Thuế thực hiện với nhiệm vụ là nghiên cứu, xây dựng và triển khai các biện pháp nghiệp vụ QLRR, quản lý tuân thủ-một nhiệm vụ lớn và phức tạp.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thuế, tính đến thời điểm hiện tại thì cả nước hiện có gần 1 triệu DN, gần 3 triệu hộ kinh doanh (trong đó có khoảng 1,9 triệu hộ kinh doanh thuộc diện phải nộp thuế) và 27 triệu cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN (trong đó có khoảng 7 triệu cá nhân có thu nhập thuộc diện phải nộp thuế TNCN). Nhiệm vụ thu NSNN được cấp có thẩm quyền giao cho ngành Thuế thực hiện hàng năm là rất lớn, bình quân khoảng gần 1,5 triệu tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng trên 83% trên tổng thu ngân sách. Trong bối cảnh nền kinh tế có những thay đổi đáng kể, thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài một mặt tạo động lực cho phát triển kinh tế nhưng cũng đồng thời tạo ra các thách thức không nhỏ trong công tác quản lý thuế mới.

Bên cạnh đó, với việc triển khai chuyển đổi số trong công tác quản lý thuế như quản lý hóa đơn điện tử; hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền; quản lý giao dịch của các sàn thương mại điện tử và các hoạt động khác của nền kinh tế số, thì các gian lận của người nộp thuế qua hệ thống điện tử sẽ phát sinh nhanh hơn, nhiều hơn, tình trạng sử dụng hóa đơn bất hợp pháp diễn biến phức tạp, các DN có dấu hiệu trốn thuế xuất hiện ngày càng nhiều tại các địa phương trên toàn quốc, nguy cơ rủi ro trong quản lý thuế là khó lường.

Vì vậy, để triển khai hiệu quả công tác quản lý rủi ro tuân thủ, cần xây dựng một đơn vị để chủ trì, điều phối công việc được thống nhất, thể hiện được tính chất thường trực, thường xuyên, liên tục, dài hạn. Nhưng vị trí và vai trò của Ban QLRR trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng cục Thuế hiện nay chưa phải là một tổ chức hành chính. Ban QLRR chưa có đầy đủ địa vị pháp lý và thẩm quyền nên khó đảm bảo vai trò chủ trì, điều phối triển khai nhiệm vụ quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ trong toàn ngành Thuế.

bai 7 ban ve mo hinh thuc hien chuc nang quan ly tuan thu thue tai viet nam

Điều này có thể thấy ở khâu quản lý cơ sở dữ liệu người nộp thuế hiện nay, đang được phân tán ở nhiều đơn vị quản lý, nên khi cần khai thác để phục vụ cho công tác phân tích thì lại gặp trở ngại do phải có yêu cầu từ Ban Quản lý rủi ro và được các vụ/đơn vị quản lý phê duyệt, cung cấp. Bên cạnh đó, dữ liệu chưa được tập trung đẩy đủ do chưa có đầu mối chung thực hiện thường xuyên công tác rà soát, yêu cầu điều chỉnh dữ liệu, việc kết chuyển dữ liệu giữa các ứng dụng còn sai lệch ảnh hưởng đến kết quả phân tích đánh giá rủi ro người nộp thuế.

Bên cạnh đó, nhiều nhiệm vụ đối với công tác quản lý rủi ro tuân thủ được đặt ra trong thời gian tới cần tập trung thực hiện như hoàn thiện hành lang pháp lý về QLRR tuân thủ tổng thể tại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế theo nguyên tắc quản lý rủi ro; xây dựng các bộ chỉ số tiêu chí, quy trình triển khai áp dụng bộ chỉ số tiêu chí QLRR tuân thủ tổng thể với đầy đủ các chức năng nghiệp vụ quản lý thuế; kết hợp giữa kết quả phân tích dữ liệu thực tế kê khai của người nộp thuế và kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý thuế của cơ quan thuế các cấp.

Ngoài ra, chủ trì, phối hợp với các đơn vị xây dựng chương trình, kế hoạch, chiến lược quản lý tuân thủ tổng thể người nộp thuế. Xây dựng một cơ sở dữ liệu thông tin QLRR tổng thể, toàn diện với các công cụ thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu thế phát triển của công nghệ đáp ứng yêu cầu quản lý thuế, tạo thuận lợi cho người dân, nâng cao hiệu quả quản lý. Chỉ đạo toàn ngành kiểm tra, đánh giá, giám sát việc áp dụng QLRR tuân thủ tổng thể trong công tác quản lý thuế…

Từ kinh nghiệm của các nước và theo khuyến nghị của chuyên gia IMF, WB thì cần trao cho Ban QLRR một địa vị pháp lý ngang cấp với các đơn vị và trong Tổng cục Thuế và đầy đủ thẩm quyền để điều phối, chỉ đạo các hoạt động quản lý rủi ro tuân thủ thống nhất tại Tổng cục Thuế chứ không phải là một bộ phận được thành lập chỉ để hoàn thành những công việc có tính chất ngắn hạn.

Việc hình thành một bộ phận quản lý tuân thủ người nộp thuế tập trung, thống nhất, chuyên sâu sẽ tạo động lực cho cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế và nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế.

Minh Huệ

Bài 8. Đề xuất xây dựng bộ tiêu chí tuân thủ pháp luật thuế

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Mã số REX không tồn tại, chưa đủ cơ sở hưởng ưu đãi thuế EVFTA

Mã số REX không tồn tại, chưa đủ cơ sở hưởng ưu đãi thuế EVFTA

Trước vướng mắc của Công ty China Tianchen Engineering Corporation (Trung Quốc) về khai báo địa điểm xếp hàng và điều kiện hưởng ưu đãi thuế theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Cục Hải quan đã có văn bản hướng dẫn cụ thể.
Hàng thực phẩm xuất nhập khẩu sẽ được quản lý theo mức độ nguy cơ

Hàng thực phẩm xuất nhập khẩu sẽ được quản lý theo mức độ nguy cơ

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được trình Quốc hội ngày 24/10/2026 đề xuất phân loại thực phẩm theo mức độ nguy cơ, làm cơ sở áp dụng biện pháp quản lý phù hợp, trong đó có kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu. Các bộ tiếp tục phối hợp kiểm tra hàng thực phẩm xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định pháp luật chuyên ngành.
Chậm kiểm tra chất lượng, đồ chơi trẻ em nhập khẩu phát sinh chi phí lưu kho

Chậm kiểm tra chất lượng, đồ chơi trẻ em nhập khẩu phát sinh chi phí lưu kho

Doanh nghiệp phản ánh thời gian kiểm tra chất lượng đồ chơi trẻ em nhập khẩu kéo dài 30-60 ngày, khiến hàng hóa phải lưu kho, chậm thông quan. Trước phản ánh này, Cục Hải quan đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp tháo gỡ vướng mắc trong tiếp nhận hồ sơ, lấy mẫu, thử nghiệm và cấp chứng nhận.
Hàng mua gom của cư dân biên giới áp dụng thủ tục hải quan mới từ 2027

Hàng mua gom của cư dân biên giới áp dụng thủ tục hải quan mới từ 2027

Từ ngày 1/1/2027, hàng hóa thương nhân mua gom của cư dân biên giới thực hiện thủ tục hải quan theo quy định mới, trong đó quy định thời hạn nộp hồ sơ, địa điểm tập kết và điều kiện đưa hàng vào nội địa.
Cảnh báo thực phẩm chức năng có hồ sơ công bố không hợp lệ

Cảnh báo thực phẩm chức năng có hồ sơ công bố không hợp lệ

Cục Hải quan yêu cầu các chi cục hải quan khu vực tăng cường kiểm soát hàng hóa nhập khẩu sau cảnh báo của Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) về sản phẩm Sausando Slimming capsule có giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố không do cơ quan này cấp.
Mã HS đông trùng hạ thảo nhập khẩu phụ thuộc bản chất hàng hóa

Mã HS đông trùng hạ thảo nhập khẩu phụ thuộc bản chất hàng hóa

Hiện cơ quan Hải quan chưa có cơ sở xác định cụ thể mã số HS đối với mặt hàng đông trùng hạ thảo nhập khẩu theo đề nghị của Công ty TNHH Sinh phẩm và Dược phẩm Tasco do hồ sơ cung cấp chưa đủ căn cứ đối chiếu với Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam.
Hoàn thiện quy định thu, nộp thuế hàng hóa xuất nhập khẩu

Hoàn thiện quy định thu, nộp thuế hàng hóa xuất nhập khẩu

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến hoàn thiện dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 184/2015/TT-BTC và Thông tư số 51/2025/TT-BTC tập trung vào thủ tục thu, nộp thuế, bảo lãnh thuế, giao dịch điện tử và tra soát, xử lý chứng từ nộp tiền đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Đưa tiếng nói doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách hải quan

Đưa tiếng nói doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách hải quan

Tham vấn doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách, duy trì đối thoại với các hiệp hội và tăng cường phối hợp trong thực hiện thủ tục đang tạo nền tảng để phát triển quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp thực chất hơn. Từ hoàn thiện quy định đến tổ chức thực hiện tại cửa khẩu, việc lắng nghe và xử lý kiến nghị của doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hoàn thiện pháp lý, khơi thông dòng chảy thương mại biên giới

Hoàn thiện pháp lý, khơi thông dòng chảy thương mại biên giới

Dự thảo sửa đổi Nghị định số 14/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới (gọi tắt dự thảo) tập trung tháo gỡ vướng mắc về thuế, phí, thủ tục hải quan và thẩm quyền quản lý. Việc đồng bộ các quy định pháp luật được kỳ vọng hạn chế chồng chéo, tạo thuận lợi cho hoạt động giao thương và xuất nhập khẩu qua biên giới.
Hàng bưu chính, chuyển phát nhanh: Thay đổi quy trình làm thủ tục hải quan

Hàng bưu chính, chuyển phát nhanh: Thay đổi quy trình làm thủ tục hải quan

Thông tư số 142/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 16/11/2026, sửa đổi quy định về phân nhóm hàng nhập khẩu, định danh điện tử, nộp thuế và hồ sơ hải quan đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế. Những thay đổi này đòi hỏi doanh nghiệp rà soát quy trình nghiệp vụ, chuẩn bị hệ thống dữ liệu để đáp ứng yêu cầu mới.
Hoàn thuế hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu cần điều kiện gì?

Hoàn thuế hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu cần điều kiện gì?

Theo Cục Hải quan, việc hoàn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất, kinh doanh nhưng đã đưa vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng điều kiện về hoàn thuế, cơ sở xác định hàng hóa và thủ tục hải quan theo quy định.
Urê nhập khẩu của doanh nghiệp thương mại có phải quản lý như phân bón?

Urê nhập khẩu của doanh nghiệp thương mại có phải quản lý như phân bón?

Cục Hải quan đề nghị Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) làm rõ chính sách quản lý đối với mặt hàng urê nhập khẩu khai báo làm nguyên liệu sản xuất công nghiệp nhưng có thể sử dụng làm phân bón, trong khi doanh nghiệp nhập khẩu không trực tiếp sử dụng hàng hóa để sản xuất.
Xác định mã số HS mặt hàng hamburger theo tỷ lệ thành phần

Xác định mã số HS mặt hàng hamburger theo tỷ lệ thành phần

Cục Hải quan yêu cầu các chi cục hải quan khu vực rà soát việc phân loại mặt hàng hamburger, căn cứ tỷ lệ các thành phần trong sản phẩm để xác định mã số HS theo quy định.
Cần thống nhất cơ chế xử lý đối với hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào bỏ sót

Cần thống nhất cơ chế xử lý đối với hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào bỏ sót

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp thắc mắc khi phát hiện hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào bị bỏ sót sau khi kỳ tính thuế đã được cơ quan Thuế kiểm tra, giải quyết hoàn thuế có được tiếp tục kê khai, khấu trừ và đề nghị hoàn hay không. Chuyên gia Trần Văn Quân, Chủ tịch Công ty TNHH Tư vấn Vietnam Laws (VNLAWS) trao đổi cùng phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính một số nội dung liên quan vấn đề này.
Thống nhất phân loại hàng hóa, tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp gỗ

Thống nhất phân loại hàng hóa, tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp gỗ

Trước phản ánh của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam về tình trạng chưa thống nhất trong phân loại một số mặt hàng giữa các đơn vị hải quan địa phương, Cục Hải quan cho biết đang triển khai các giải pháp như thí điểm thông quan tập trung, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ xác định mã số hàng hóa và tăng cường đào tạo nghiệp vụ.

Đọc nhiều