Thứ hai 02/11/2026 11:54
Thời tiết: Hà Nội 32°C
Đà Nẵng 31°C
Cà Mau 31°C
Hải Phòng 32°C
TP Hồ Chí Minh 32°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Phát triển nguồn nguyên liệu bền vững để nâng tầm giá trị xuất khẩu gỗ

Trọng Nghĩa
Nguồn nguyên liệu bền vững đang trở thành điều kiện tiên quyết để ngành gỗ Việt Nam nâng cao giá trị gia tăng, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và mở rộng thị trường xuất khẩu. Muốn đạt mục tiêu này, cần đồng bộ giải pháp từ chính sách, liên kết chuỗi đến đổi mới mô hình quản trị hiệu quả.
Ngành gỗ Việt Nam đang có cơ hội lớn để chinh phục mốc 19 tỷ USD xuất khẩu trong năm 2026.
Ngành gỗ Việt Nam đang có cơ hội lớn để chinh phục mốc 19 tỷ USD xuất khẩu trong năm 2026. Ảnh: Tư liệu.

Liên kết chuỗi để xây dựng nền tảng nguyên liệu bền vững

Sau hơn hai thập kỷ tăng trưởng mạnh, ngành gỗ Việt Nam đã khẳng định vị thế là một trong 8 ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch trên 10 tỷ USD mỗi năm, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh không còn chỉ dựa vào năng lực sản xuất hay chi phí lao động, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng và tính bền vững của chuỗi cung ứng nguyên liệu.

Những yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp, quản lý rừng bền vững, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải carbon và trách nhiệm xã hội đang trở thành điều kiện bắt buộc tại nhiều thị trường lớn, buộc ngành gỗ Việt Nam phải chuyển đổi từ tư duy khai thác lợi thế chi phí sang phát triển chuỗi giá trị bền vững.

Ông Nguyễn Thế Mai, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm.
Ông Nguyễn Thế Mai, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm. Ảnh: Trọng Nghĩa.

Doanh nghiệp hiện vận hành nhà máy chế biến MDF/HDF, ván ghép thanh và Melamine với công suất 450.000 m³ sản phẩm/năm, cần khoảng 1 triệu tấn gỗ nguyên liệu mỗi năm. Khoảng 20% sản lượng được xuất khẩu trực tiếp, 60% cung ứng cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và 20% phục vụ thị trường trong nước.

Tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt gỗ lớn, chất lượng cao đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động chế biến sâu, buộc nhiều doanh nghiệp phải cạnh tranh thu mua hoặc nhập khẩu nguyên liệu với chi phí cao. Để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành gỗ Việt Nam, cần sớm hoàn thiện chính sách theo hướng ưu tiên nguồn nguyên liệu cho chế biến sâu, điều chỉnh thuế và hạn ngạch xuất khẩu dăm gỗ, phát triển rừng gỗ lớn, mở rộng chứng chỉ quản lý rừng bền vững và tăng cường liên kết chuỗi lâm nghiệp.

Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, hỗ trợ người trồng rừng áp dụng các tiêu chuẩn quản lý bền vững và ký kết hợp đồng bao tiêu. Tuy nhiên, các mối liên kết vẫn thiếu tính ổn định khi giá nguyên liệu biến động, thị trường xuất khẩu gặp khó khăn hoặc thương lái đưa ra mức giá cao hơn.

Bên cạnh đó, phần lớn diện tích rừng trồng vẫn được khai thác theo chu kỳ ngắn, quy mô nhỏ lẻ, chưa đáp ứng yêu cầu về gỗ lớn, chất lượng cao và khả năng truy xuất nguồn gốc phục vụ chế biến sâu.

Theo PGS, TS. Lý Tuấn Trường, Viện trưởng Viện Công nghiệp gỗ và Nội thất - Trường Đại học Lâm nghiệp, nguyên nhân cốt lõi không nằm ở việc thiếu doanh nghiệp, thiếu người trồng rừng hay thiếu cơ sở nghiên cứu, mà là chưa hình thành được cơ chế để các chủ thể cùng kiến tạo và chia sẻ giá trị.

Ông Trường cho rằng, đã đến lúc cần chuyển từ tư duy phát triển “chuỗi cung ứng nguyên liệu” sang xây dựng “hệ sinh thái đồng kiến tạo giá trị”, trong đó doanh nghiệp, người trồng rừng, cơ sở nghiên cứu, Nhà nước và các tổ chức trung gian cùng tham gia tạo lập, chia sẻ lợi ích, tri thức và dữ liệu để nâng cao sức chống chịu của chuỗi nguyên liệu trước biến động thị trường.

Ông Nguyễn Thế Mai, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm cho biết, doanh nghiệp hiện có công suất 450.000 m³ sản phẩm mỗi năm, tương đương nhu cầu khoảng 1 triệu tấn gỗ nguyên liệu. Đây là nhu cầu rất lớn, trong khi nguồn gỗ lớn trong nước ngày càng khan hiếm vì phần lớn rừng trồng vẫn được khai thác sau 3-4 năm để sản xuất dăm gỗ xuất khẩu. Thực trạng này khiến các doanh nghiệp chế biến sâu phải cạnh tranh quyết liệt khi thu mua nguyên liệu, thậm chí nhập khẩu gỗ với chi phí cao, làm suy giảm sức cạnh tranh của sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Theo ông Mai, cần khuyến khích kéo dài chu kỳ trồng rừng, đồng thời hoàn thiện cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ trồng rừng, tổ chức tín dụng và đơn vị chứng nhận nhằm hình thành chuỗi giá trị khép kín, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cả về số lượng lẫn chất lượng, tạo nền tảng cho ngành gỗ Việt Nam phát triển bền vững, nâng cao giá trị gia tăng lâu dài hơn.

Hoàn thiện chuỗi giá trị để mở rộng thị trường xuất khẩu

Bên cạnh việc phát triển vùng nguyên liệu, yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu cũng đang đặt ra đòi hỏi cấp thiết về xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, hợp pháp và bền vững. Các quy định như: Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), Chỉ thị Năng lượng tái tạo sửa đổi (RED III), cùng các tiêu chuẩn ESG và cam kết Net Zero không chỉ đánh giá chất lượng sản phẩm mà còn yêu cầu doanh nghiệp gỗ chứng minh đầy đủ nguồn gốc nguyên liệu, khả năng truy xuất, mức phát thải và trách nhiệm môi trường trong toàn bộ chuỗi giá trị. Điều đó đồng nghĩa, lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam sẽ được quyết định bởi năng lực quản trị chuỗi cung ứng nhiều hơn là lợi thế về chi phí sản xuất như trước đây.

ThS. Bùi Thị Nha Trang, Quản lý bộ phận Chứng nhận các tiêu chuẩn bền vững Control Union Việt Nam
ThS. Bùi Thị Nha Trang, Quản lý bộ phận Chứng nhận các tiêu chuẩn bền vững Control Union Việt Nam. Ảnh: Trọng Nghĩa.

Các yêu cầu mới từ thị trường quốc tế đang buộc doanh nghiệp gỗ Việt Nam chuyển từ đáp ứng tiêu chuẩn sản phẩm sang minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguồn nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc đến kiểm soát phát thải khí nhà kính. Trong bối cảnh đó, các quy định như: EUDR, RED III cùng các cam kết Net Zero và tiêu chuẩn ESG khiến những hệ thống chứng nhận quốc tế như: FSC, PEFC, ISCC, GGL, SBP, ISO 14067 và LCA trở thành nền tảng quản trị hiện đại thay vì chỉ là yêu cầu tuân thủ.

Việc chủ động áp dụng các tiêu chuẩn này giúp doanh nghiệp gỗ Việt Nam giảm rủi ro pháp lý, nâng cao uy tín, mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường giá trị cao và gia tăng sức cạnh tranh. Đồng thời, quản lý rừng bền vững gắn với tín chỉ carbon sẽ mở ra nguồn giá trị gia tăng mới, tạo động lực để ngành gỗ Việt Nam phát triển minh bạch, phát thải thấp và bền vững.

Ở góc độ doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu, ông Phạm Đình Thắng, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Triệu Thái Sơn cho rằng, doanh nghiệp hiện vận hành hệ thống nhà máy với công suất khoảng 15.000 m³ ván ép mỗi tháng, sử dụng hoàn toàn nguyên liệu keo trong nước và tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động. Riêng năm 2025, hai nhà máy trong hệ thống xuất khẩu khoảng 114.579 m³ sản phẩm, tương đương 2.491 container.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn là nguồn nguyên liệu hợp pháp, đủ tuổi và đạt chất lượng cho chế biến sâu ngày càng khan hiếm. Theo ông Thắng, cùng khoảng 3 tấn gỗ keo tươi, nếu chỉ băm dăm xuất khẩu sẽ tạo giá trị khoảng 3 triệu đồng; sản xuất viên nén đạt khoảng 6 triệu đồng; nhưng đưa vào chuỗi chế biến sâu kết hợp tận dụng phụ phẩm có thể tạo giá trị vượt 20 triệu đồng. Những con số này cho thấy, dư địa gia tăng giá trị của ngành gỗ Việt Nam vẫn còn rất lớn nếu nguồn nguyên liệu được tổ chức lại theo hướng ưu tiên chế biến sâu.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, doanh nghiệp kiến nghị cần sớm rà soát hoạt động của các cơ sở băm dăm, điểm thu mua và trạm cân tự phát; khuyến khích kéo dài chu kỳ trồng rừng lên 5-7 năm nhằm hình thành vùng gỗ lớn; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu số về vùng nguyên liệu, tăng cường truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng xanh để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Từ góc nhìn quản trị chuỗi cung ứng, ThS. Bùi Thị Nha Trang, Quản lý bộ phận Chứng nhận các tiêu chuẩn bền vững Control Union Việt Nam nhận định, thương mại lâm sản toàn cầu đang chuyển từ mô hình “dựa trên niềm tin” sang “dựa trên bằng chứng”. Do đó, các hệ thống chứng nhận quốc tế như: FSC, PEFC, ISCC, Green Gold Label hay SBP không còn đơn thuần là công cụ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, mà đã trở thành nền tảng giúp doanh nghiệp gỗ chứng minh tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu, minh bạch dữ liệu, quản trị phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Việc chủ động đầu tư vào hệ thống truy xuất nguồn gốc, số hóa dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng sẽ tạo lợi thế để doanh nghiệp gỗ của Việt Nam tiếp cận các thị trường có giá trị cao, đồng thời sẵn sàng thích ứng với những yêu cầu mới của thương mại xanh.

Có thể thấy, phát triển nguồn nguyên liệu bền vững không còn là nhiệm vụ riêng của người trồng rừng hay doanh nghiệp chế biến, mà đòi hỏi sự đồng hành của Nhà nước, cơ sở nghiên cứu, tổ chức chứng nhận và các thành phần trong chuỗi giá trị. Khi cơ chế chính sách được hoàn thiện, liên kết chuỗi được củng cố và quản trị hiện đại trở thành nền tảng phát triển, ngành gỗ Việt Nam sẽ có thêm động lực để nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường xuất khẩu và khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng lâm sản bền vững toàn cầu.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc tăng kết nối logistics, chuỗi giá trị toàn cầu

Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc tăng kết nối logistics, chuỗi giá trị toàn cầu

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch thương mại hai chiều đạt hàng trăm tỷ USD, việc doanh nghiệp hai nước tăng kết nối dịch vụ logistcis góp phần tham gia sâu vài chuỗi thương mại toàn cầu.
Xuất nhập khẩu chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD

Xuất nhập khẩu chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD

Theo thông tin từ Cục Hải quan, lũy kế từ đầu năm đến ngày 29/10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD.
Xuất khẩu da giày, túi xách năm 2026 vẫn còn dư địa

Xuất khẩu da giày, túi xách năm 2026 vẫn còn dư địa

Chín tháng năm 2026, xuất khẩu da giày, túi xách Việt Nam duy trì đà tăng trưởng giữa bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động. Kết quả cho thấy, sức bền của ngành, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường, chủ động nguồn cung và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Xuất khẩu sang Trung Quốc: Doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát chất lượng và chuỗi logistics

Xuất khẩu sang Trung Quốc: Doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát chất lượng và chuỗi logistics

Xuất khẩu sang Trung Quốc mở ra dư địa cho hàng hóa Việt Nam, song lợi thế về địa lý không bảo đảm giao dịch an toàn. Từ thanh toán, xác minh đối tác đến vận tải, chứng từ, chỉ một mắt xích thiếu chặt chẽ cũng có thể khiến doanh nghiệp vướng tranh chấp. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động quản trị rủi ro ngay từ khâu tìm kiếm đối tác và đàm phán hợp đồng.
Bộ Công Thương nhận hồ sơ đấu giá hạn ngạch nhập khẩu đường từ 29/10 đến ngày 4/11

Bộ Công Thương nhận hồ sơ đấu giá hạn ngạch nhập khẩu đường từ 29/10 đến ngày 4/11

Bộ Công Thương nhận hồ sơ tham gia đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2026 từ ngày 29/10 đến 4/11. Giá khởi điểm là 2 triệu đồng/tấn, phiên đấu giá diễn ra ngày 18/11.
Thông báo 150 Trung Quốc mới ban hành có gì đáng chú ý

Thông báo 150 Trung Quốc mới ban hành có gì đáng chú ý

Thông báo số 150 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc yêu cầu nhà xuất khẩu thực phẩm đăng ký, bảo đảm thông tin chính xác và cập nhật trong vòng 60 ngày khi có thay đổi. Với doanh nghiệp Việt Nam, trách nhiệm còn bao gồm cung cấp thông tin phục vụ khai báo và phối hợp kiểm tra.
Điện tử dẫn dắt tăng trưởng xuất nhập khẩu

Điện tử dẫn dắt tăng trưởng xuất nhập khẩu

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 336,43 tỷ USD, chiếm 35,6% kim ngạch cả nước. Đáng chú ý, nhóm hàng này đều dẫn đầu về kim ngạch cả ở chiều xuất khẩu, nhập khẩu.
Xuất khẩu sang ASEAN cần kiểm soát rủi ro để giữ lợi thế cạnh tranh

Xuất khẩu sang ASEAN cần kiểm soát rủi ro để giữ lợi thế cạnh tranh

ASEAN là thị trường gần gũi, giàu tiềm năng nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu đối với doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xuất khẩu. Từ thẩm định đối tác, đàm phán hợp đồng đến thanh toán, logistics và chứng nhận xuất xứ, nhận diện đúng rủi ro tại từng thị trường là điều kiện quan trọng để tận dụng ưu đãi thương mại, bảo vệ lợi ích và phát triển xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu lốp xe nâng giá trị ngành cao su Việt Nam

Xuất khẩu lốp xe nâng giá trị ngành cao su Việt Nam

Xuất khẩu lốp xe đang mở thêm cơ hội phát triển sản phẩm cao su chế biến, gia tăng giá trị từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Để khai thác bền vững thị trường này, doanh nghiệp cần gắn đầu tư công nghệ, liên kết nguyên liệu với quản trị rủi ro phòng vệ thương mại.
Logistics xanh: Giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Logistics xanh: Giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Chuyển đổi xanh trong logistics cần gắn với tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu. Đồng bộ hạ tầng, công nghệ và dữ liệu là yêu cầu quan trọng để đưa logistics xanh trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Xuất khẩu giảm vẫn phải đề phòng rủi ro phòng vệ thương mại

Xuất khẩu giảm vẫn phải đề phòng rủi ro phòng vệ thương mại

Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được lưu ý về nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại ngay cả khi kim ngạch giảm, từ đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp theo dõi vị thế tại từng thị trường và chuẩn bị hồ sơ chứng minh hoạt động sản xuất, nguồn gốc nguyên liệu từ sớm.
Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần chủ động kiểm soát rủi ro

Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần chủ động kiểm soát rủi ro

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro với doanh nghiệp Việt Nam. Từ chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn hàng hóa đến thông quan, logistics và thanh toán, chủ động nhận diện, kiểm soát rủi ro giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu qua sàn quốc tế: Doanh nghiệp Việt cần vượt rào cản nào?

Xuất khẩu qua sàn quốc tế: Doanh nghiệp Việt cần vượt rào cản nào?

Xuất khẩu qua sàn quốc tế mở rộng cơ hội cho hàng Việt, nhưng rào cản pháp lý, logistics và năng lực vận hành vẫn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt trong cạnh tranh bền vững.
Doanh nghiệp chuẩn bị gì để tận dụng EVFTA mở rộng xuất khẩu?

Doanh nghiệp chuẩn bị gì để tận dụng EVFTA mở rộng xuất khẩu?

Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do (VEFTA) ngày 18/10/2026 được kỳ vọng mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản Việt Nam, không chỉ trong xuất khẩu sang các thị trường có thu nhập cao mà còn trong hợp tác về nguồn nguyên liệu, công nghệ chế biến và phát triển chuỗi cung ứng.
Xuất nhập khẩu có thể cán mốc 1.000 tỷ USD ngay trong tháng 10

Xuất nhập khẩu có thể cán mốc 1.000 tỷ USD ngay trong tháng 10

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 945,07 tỷ USD, chỉ còn cách mốc 1.000 tỷ USD khoảng 54,93 tỷ USD. Với quy mô giao thương hiện tại và xu hướng kim ngạch nửa cuối tháng thường cao hơn nửa đầu tháng, dấu mốc này có cơ sở để được xác lập ngay trong tháng 10 này.