Thứ hai 02/11/2026 11:55
Thời tiết: Hà Nội 32°C
Đà Nẵng 31°C
Cà Mau 31°C
Hải Phòng 32°C
TP Hồ Chí Minh 32°C
e-ISSN 3093-3501
Xuất nhập khẩu
aa

Kiến tạo nguồn nguyên liệu bền vững cho xuất khẩu gỗ

Trọng Nghĩa
Nguồn nguyên liệu bền vững đang trở thành nền tảng để ngành gỗ Việt Nam nâng cao giá trị gia tăng, đáp ứng các tiêu chuẩn thương mại xanh và giữ vững đà tăng trưởng xuất khẩu. Muốn hiện thực hóa mục tiêu đó, cần tái cấu trúc chuỗi cung ứng, phát triển rừng gỗ lớn và tăng cường liên kết giữa các chủ thể.
Ngành gỗ Việt Nam cần tăng cường tự chủ nguồn nguyên liệu để gia tăng giá trị xuất khẩu gỗ.
Ngành gỗ Việt Nam cần tăng cường tự chủ nguồn nguyên liệu để gia tăng giá trị xuất khẩu gỗ. Ảnh: ST

Tái cấu trúc vùng nguyên liệu, tạo nền tảng chế biến sâu

Theo số liệu Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam lần đầu vượt mốc 17 tỷ USD trong năm 2025 và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm 2026, khi kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 8,6 tỷ USD, tăng gần 5% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, trong khi Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước châu Âu ghi nhận mức tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu tiêu dùng phục hồi cùng lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do.

Tuy nhiên, cùng với triển vọng mở rộng thị trường xuất khẩu, ngành gỗ Việt Nam cũng đối mặt sức ép ngày càng lớn từ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, quản lý rừng bền vững và giảm phát thải carbon, đòi hỏi phải chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, đặc biệt cần tái cấu trúc vùng nguyên liệu, tạo nền tảng cho chế biến sâu, hướng tới phát triển bền vững.

Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nền tảng tài nguyên của ngành chế biến, xuất khẩu gỗ đang tiến gần giới hạn khi quỹ đất mở rộng rừng trồng gần như không còn. Trong khi đó, phần lớn diện tích rừng sản xuất vẫn được khai thác theo chu kỳ ngắn 5-7 năm nhằm thu hồi vốn nhanh, dẫn tới chất lượng gỗ chưa đáp ứng yêu cầu chế biến sâu, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cải thiện cấu trúc đất và tích lũy carbon lâu dài.

Vì vậy, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 19 tỷ USD trong năm 2026 và hướng tới 25 tỷ USD vào năm 2030 không thể dựa vào việc gia tăng sản lượng hay phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, mà phải được xây dựng trên nền tảng lâm nghiệp bền vững, tự chủ nguồn nguyên liệu và nâng cấp chuỗi giá trị.

Ông Nguyễn Đình Thọ cho rằng, trọng tâm trong giai đoạn tới không còn là mở rộng diện tích rừng mà là nâng cao năng suất, chất lượng trên quỹ đất hiện có. Theo đó, cần chuyển mạnh từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn với chu kỳ 10-15 năm, mở rộng diện tích được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý vùng nguyên liệu nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của các thị trường nhập khẩu.

ông Phạm Văn Thành, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần TCT Việt Nam.
Ông Phạm Văn Thành, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần TCT Việt Nam. Ảnh: Trọng Nghĩa.

Đồng quan điểm, ông Phạm Văn Thành, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần TCT Việt Nam nhận định, phát triển nguồn nguyên liệu bền vững phải được đặt trong tổng thể chuỗi giá trị ngành gỗ. Ông Thành cho rằng, dăm gỗ vẫn là mắt xích quan trọng khi góp phần tiêu thụ gỗ nguyên liệu và tạo thu nhập cho người trồng rừng. Tuy nhiên, trước yêu cầu nâng cao giá trị tài nguyên, điều cần thiết là tổ chức lại nguồn nguyên liệu theo hướng sử dụng hiệu quả hơn, bảo đảm mỗi loại gỗ được đưa vào đúng phân khúc chế biến để tạo ra giá trị cao nhất.

Theo đó, ông Thành kiến nghị, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách phát triển rừng gỗ lớn, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ bền vững (FSC) và xây dựng cơ chế hài hòa lợi ích giữa người trồng rừng, doanh nghiệp dăm gỗ với doanh nghiệp chế biến sâu. Khi các mắt xích trong chuỗi cùng phát triển đồng bộ, ngành gỗ Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc để gia tăng năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Minh bạch chuỗi cung ứng, nâng cao giá trị xuất khẩu

Bên cạnh việc phát triển vùng nguyên liệu, năng lực cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam còn được quyết định bởi khả năng xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, hợp pháp và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững.

Những quy định như: Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 cùng hàng loạt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và trách nhiệm môi trường đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, phát triển nguồn nguyên liệu không chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ sản lượng mà phải hướng tới chất lượng, tính minh bạch và khả năng truy xuất trên toàn bộ chuỗi giá trị, qua đó tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho ngành gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Theo ông Hoàng Hải Hiếu, Quản lý Chương trình chứng nhận gỗ, đại diện Bureau Veritas Việt Nam, vấn đề cốt lõi hiện nay là chuyển từ tư duy ưu tiên sản lượng sang ưu tiên minh bạch. Thực tế đánh giá tại nhiều vùng trồng rừng cho thấy, không ít chủ rừng và doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất, quản lý dữ liệu vùng nguyên liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu rõ ràng về tọa độ lô rừng, nguồn gốc hợp pháp và khả năng kiểm soát rủi ro trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Vì vậy, ông Hoàng Hải Hiếu cho rằng, cần xây dựng hệ thống quản lý vùng nguyên liệu dựa trên dữ liệu số, bản đồ vùng trồng và cơ chế truy xuất xuyên suốt từ khai thác đến chế biến. Đồng thời, mở rộng diện tích rừng đạt các chứng chỉ quản lý bền vững như: FSC hay VFCS/PEFC để nâng cao giá trị sản phẩm và tạo điều kiện tiếp cận những phân khúc thị trường có giá trị gia tăng cao.

Một vấn đề khác được ông Hoàng Hải Hiếu đặc biệt nhấn mạnh là phát triển rừng gỗ lớn cần đi đôi với cơ chế chia sẻ lợi ích và hỗ trợ người trồng rừng. Việc kéo dài chu kỳ khai thác sẽ khó đạt hiệu quả nếu thiếu sự đồng hành của doanh nghiệp thông qua các cam kết bao tiêu, hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ rủi ro khi xảy ra thiên tai. Bên cạnh đó, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tận dụng phế phụ phẩm chế biến sâu làm nguyên liệu cho viên nén và phát triển thị trường tín chỉ carbon cũng sẽ góp phần gia tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Diêm Thị Luyến, Quản lý phát triển kinh doanh Công ty cổ phần Tekcom nhận định, lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam không còn nằm ở chi phí lao động thấp mà đang chuyển sang năng lực công nghệ và phát triển bền vững. Khách hàng quốc tế ngày càng quan tâm đến mức độ tự động hóa của nhà máy, khả năng truy xuất nguồn gốc, tính hợp pháp của nguyên liệu và việc đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường.

Tuy nhiên, dù đầu tư dây chuyền hiện đại đến đâu, doanh nghiệp cũng khó phát huy hiệu quả nếu thiếu nguồn nguyên liệu ổn định và đạt chuẩn. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng ưu đãi để đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và tăng cường liên kết giữa người trồng rừng, doanh nghiệp chế biến, cơ quan quản lý cùng các viện nghiên cứu.

Có thể khẳng định, khi chuỗi giá trị được kết nối chặt chẽ, nguồn nguyên liệu được quản trị minh bạch và công nghệ trở thành động lực tăng trưởng, ngành gỗ Việt Nam sẽ có đủ nền tảng để nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường xuất khẩu và khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng gỗ toàn cầu.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc tăng kết nối logistics, chuỗi giá trị toàn cầu

Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc tăng kết nối logistics, chuỗi giá trị toàn cầu

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch thương mại hai chiều đạt hàng trăm tỷ USD, việc doanh nghiệp hai nước tăng kết nối dịch vụ logistcis góp phần tham gia sâu vài chuỗi thương mại toàn cầu.
Xuất nhập khẩu chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD

Xuất nhập khẩu chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD

Theo thông tin từ Cục Hải quan, lũy kế từ đầu năm đến ngày 29/10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam chính thức cán mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD.
Xuất khẩu da giày, túi xách năm 2026 vẫn còn dư địa

Xuất khẩu da giày, túi xách năm 2026 vẫn còn dư địa

Chín tháng năm 2026, xuất khẩu da giày, túi xách Việt Nam duy trì đà tăng trưởng giữa bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động. Kết quả cho thấy, sức bền của ngành, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường, chủ động nguồn cung và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Xuất khẩu sang Trung Quốc: Doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát chất lượng và chuỗi logistics

Xuất khẩu sang Trung Quốc: Doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát chất lượng và chuỗi logistics

Xuất khẩu sang Trung Quốc mở ra dư địa cho hàng hóa Việt Nam, song lợi thế về địa lý không bảo đảm giao dịch an toàn. Từ thanh toán, xác minh đối tác đến vận tải, chứng từ, chỉ một mắt xích thiếu chặt chẽ cũng có thể khiến doanh nghiệp vướng tranh chấp. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động quản trị rủi ro ngay từ khâu tìm kiếm đối tác và đàm phán hợp đồng.
Bộ Công Thương nhận hồ sơ đấu giá hạn ngạch nhập khẩu đường từ 29/10 đến ngày 4/11

Bộ Công Thương nhận hồ sơ đấu giá hạn ngạch nhập khẩu đường từ 29/10 đến ngày 4/11

Bộ Công Thương nhận hồ sơ tham gia đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2026 từ ngày 29/10 đến 4/11. Giá khởi điểm là 2 triệu đồng/tấn, phiên đấu giá diễn ra ngày 18/11.
Thông báo 150 Trung Quốc mới ban hành có gì đáng chú ý

Thông báo 150 Trung Quốc mới ban hành có gì đáng chú ý

Thông báo số 150 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc yêu cầu nhà xuất khẩu thực phẩm đăng ký, bảo đảm thông tin chính xác và cập nhật trong vòng 60 ngày khi có thay đổi. Với doanh nghiệp Việt Nam, trách nhiệm còn bao gồm cung cấp thông tin phục vụ khai báo và phối hợp kiểm tra.
Điện tử dẫn dắt tăng trưởng xuất nhập khẩu

Điện tử dẫn dắt tăng trưởng xuất nhập khẩu

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 336,43 tỷ USD, chiếm 35,6% kim ngạch cả nước. Đáng chú ý, nhóm hàng này đều dẫn đầu về kim ngạch cả ở chiều xuất khẩu, nhập khẩu.
Xuất khẩu sang ASEAN cần kiểm soát rủi ro để giữ lợi thế cạnh tranh

Xuất khẩu sang ASEAN cần kiểm soát rủi ro để giữ lợi thế cạnh tranh

ASEAN là thị trường gần gũi, giàu tiềm năng nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu đối với doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xuất khẩu. Từ thẩm định đối tác, đàm phán hợp đồng đến thanh toán, logistics và chứng nhận xuất xứ, nhận diện đúng rủi ro tại từng thị trường là điều kiện quan trọng để tận dụng ưu đãi thương mại, bảo vệ lợi ích và phát triển xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu lốp xe nâng giá trị ngành cao su Việt Nam

Xuất khẩu lốp xe nâng giá trị ngành cao su Việt Nam

Xuất khẩu lốp xe đang mở thêm cơ hội phát triển sản phẩm cao su chế biến, gia tăng giá trị từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Để khai thác bền vững thị trường này, doanh nghiệp cần gắn đầu tư công nghệ, liên kết nguyên liệu với quản trị rủi ro phòng vệ thương mại.
Logistics xanh: Giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Logistics xanh: Giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp

Chuyển đổi xanh trong logistics cần gắn với tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu. Đồng bộ hạ tầng, công nghệ và dữ liệu là yêu cầu quan trọng để đưa logistics xanh trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Xuất khẩu giảm vẫn phải đề phòng rủi ro phòng vệ thương mại

Xuất khẩu giảm vẫn phải đề phòng rủi ro phòng vệ thương mại

Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được lưu ý về nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại ngay cả khi kim ngạch giảm, từ đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp theo dõi vị thế tại từng thị trường và chuẩn bị hồ sơ chứng minh hoạt động sản xuất, nguồn gốc nguyên liệu từ sớm.
Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần chủ động kiểm soát rủi ro

Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần chủ động kiểm soát rủi ro

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro với doanh nghiệp Việt Nam. Từ chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn hàng hóa đến thông quan, logistics và thanh toán, chủ động nhận diện, kiểm soát rủi ro giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu bền vững.
Xuất khẩu qua sàn quốc tế: Doanh nghiệp Việt cần vượt rào cản nào?

Xuất khẩu qua sàn quốc tế: Doanh nghiệp Việt cần vượt rào cản nào?

Xuất khẩu qua sàn quốc tế mở rộng cơ hội cho hàng Việt, nhưng rào cản pháp lý, logistics và năng lực vận hành vẫn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt trong cạnh tranh bền vững.
Doanh nghiệp chuẩn bị gì để tận dụng EVFTA mở rộng xuất khẩu?

Doanh nghiệp chuẩn bị gì để tận dụng EVFTA mở rộng xuất khẩu?

Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do (VEFTA) ngày 18/10/2026 được kỳ vọng mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản Việt Nam, không chỉ trong xuất khẩu sang các thị trường có thu nhập cao mà còn trong hợp tác về nguồn nguyên liệu, công nghệ chế biến và phát triển chuỗi cung ứng.
Xuất nhập khẩu có thể cán mốc 1.000 tỷ USD ngay trong tháng 10

Xuất nhập khẩu có thể cán mốc 1.000 tỷ USD ngay trong tháng 10

Từ đầu năm đến ngày 15/10/2026, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 945,07 tỷ USD, chỉ còn cách mốc 1.000 tỷ USD khoảng 54,93 tỷ USD. Với quy mô giao thương hiện tại và xu hướng kim ngạch nửa cuối tháng thường cao hơn nửa đầu tháng, dấu mốc này có cơ sở để được xác lập ngay trong tháng 10 này.