![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ bởi AI. |
Chế biến sâu mở đường cho sản phẩm đi xa
Quy mô ngoại thương của Việt Nam tiếp tục mở rộng. Tám tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm 2025; nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm 2025.
|
Đáng chú ý, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 300,37 tỷ USD, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, chiếm 19,9%. Nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 337,99 tỷ USD, tương đương 90,2% kim ngạch xuất khẩu.
Những con số này cho thấy xuất khẩu ngày càng gắn với năng lực chế biến, tổ chức sản xuất, duy trì chất lượng và đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng. Đây cũng là bài toán đặt ra với các sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vốn phần lớn vẫn được sản xuất ở quy mô nhỏ, nhiều công đoạn dựa vào phương thức truyền thống.
Theo ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp, điểm nghẽn không chỉ nằm ở thiết bị mà còn ở việc thiếu một hệ thống công nghệ đồng bộ, phù hợp với điều kiện và quy mô từng vùng.
Theo ông Tiến, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể tạo chuyển biến ở 4 khâu: chuẩn hóa giống và quy trình sản xuất; cơ giới hóa, giám sát chất lượng; ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, bảo quản và chế biến sâu; số hóa vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm và tiêu chuẩn hóa sản phẩm.
Từ góc độ xuất khẩu, các khâu này có mối liên hệ chặt chẽ. Sản phẩm chất lượng nhưng thời gian bảo quản ngắn sẽ khó vận chuyển xa; sản phẩm được chế biến nhưng thiếu thông tin về vùng nguyên liệu sẽ gặp yêu cầu về truy xuất; còn sản lượng không ổn định sẽ khó duy trì những đơn hàng dài hạn.
Vì vậy, ứng dụng công nghệ với đặc sản vùng cao không đơn thuần là đầu tư thêm máy móc, mà là tổ chức lại hành trình của sản phẩm, từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến bảo quản và đưa hàng ra thị trường.
Thực tế tại Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm (vùng miền núi Văn Miếu, Phú Thọ) cho thấy rõ hướng đi này. Hợp tác xã có 30 ha thanh long ruột đỏ. Từ thực tế thanh long có thời điểm được mùa, giá giảm, khó bảo quản lâu, hợp tác xã đã nghiên cứu chế biến thành mì gạo thanh long và đầu tư dây chuyền sản xuất công nghiệp.
Được biết, mỗi năm hợp tác xã đưa ra thị trường gần 700 tấn sản phẩm, doanh thu hơn 10 tỷ đồng; sản phẩm nhận được sự quan tâm từ các thị trường Nhật Bản, Nga và Pakistan.
Từ một loại nông sản tươi phụ thuộc nhiều vào mùa vụ, thanh long được chuyển thành sản phẩm có thời gian bảo quản dài hơn, thuận lợi hơn cho vận chuyển và phân phối. Chế biến sâu vì thế tạo thêm một cách thức để nông sản tham gia thị trường, thay vì chỉ tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu ban đầu.
Tuy nhiên, khi sản phẩm bước ra khỏi thị trường địa phương, những yêu cầu mới cũng xuất hiện. Bà Trần Thị Thúy, Giám đốc Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm, cho biết, Hợp tác xã còn gặp khó khăn trong ghi chép nhật ký sản xuất, vận hành thiết bị, ứng dụng thương mại điện tử và truy xuất nguồn gốc. Nhiều hộ liên kết là người lớn tuổi, khả năng sử dụng điện thoại thông minh còn hạn chế. “Vướng mắc lớn nhất mà Hợp tác xã đang gặp phải là chưa đưa được sản phẩm lên sàn thương mại điện tử”, bà Thúy chia sẻ.
Như vậy, sau bài toán công nghệ trong sản xuất là bài toán đưa sản phẩm ra thị trường. Có sản phẩm và dây chuyền chưa đồng nghĩa với có đơn hàng. Để tiếp cận khách hàng rộng hơn, các chủ thể còn phải có khả năng vận hành nền tảng số, xây dựng nội dung, giao tiếp với người mua, tổ chức logistics và thanh toán.
Với đặc sản vùng cao, đây là những khâu có mối liên hệ trực tiếp với khả năng mở rộng thị trường. Khi công nghệ sản xuất được kết nối với chế biến, truy xuất, thương mại điện tử và các dịch vụ phía sau, sản phẩm mới có thêm điều kiện đi xa hơn khỏi thị trường địa phương.
Xuất khẩu không chỉ cần sản phẩm tốt
Thương mại điện tử đang mở thêm cơ hội để đặc sản vùng xa vượt qua giới hạn địa lý. Tuy nhiên, theo ông Bùi Quang Cường, Trưởng ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, cơ hội này đi kèm yêu cầu cao hơn về kỹ năng số. “Khoảng cách địa lý thì xóa mờ, nhưng khoảng cách về kỹ năng số có khi lại đang tăng lên”, ông Cường nhìn nhận.
Với sản phẩm vùng cao, chủ thể sản xuất không chỉ làm hàng mà còn phải lo bao bì, nội dung, bán hàng, thanh toán, logistics và chăm sóc khách hàng. Câu chuyện Sokfarm cho thấy hiệu quả của cách tiếp cận này, doanh thu trên TikTok Shop tăng từ khoảng 30 triệu đồng/tháng năm 2025 lên hơn 2 tỷ đồng/tháng, với gần 200.000 sản phẩm được tiêu thụ.
Theo ông Cường, thương mại điện tử vì thế không chỉ là nơi bán hàng mà cần được vận hành như một hệ sinh thái. “Để thành công trên thương mại điện tử, không chỉ là cần có sản phẩm mà cần một hệ sinh thái và chúng ta phải có khả năng hiểu và vận hành cả một hệ sinh thái”, ông Cường nhận định.
Với xuất khẩu, yêu cầu còn cao hơn khi sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn về nguồn gốc, chất lượng và khả năng cung ứng. Tám tháng năm 2026, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 122 tỷ USD; xuất siêu sang EU đạt 31,4 tỷ USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Theo ông Phạm Quyết Tiến, chuyển giao công nghệ không nên chỉ là đưa máy móc về địa phương mà phải gắn với thử nghiệm, đào tạo, đo lường hiệu quả và khả năng vận hành thực tế.
Với sản phẩm vùng cao, công nghệ cần được triển khai theo chuỗi, từ vùng nguyên liệu, sản xuất, bảo quản, chế biến đến tiêu chuẩn và đầu ra. Quy mô sản xuất cũng phải phù hợp thị trường, tránh tình trạng dư thừa hoặc không đủ khả năng đáp ứng đơn hàng.
Từ sản vật địa phương đến hàng xuất khẩu vì thế cần nhiều hơn một dây chuyền hay gian hàng trực tuyến. Đó là quá trình kết nối công nghệ, kỹ năng số, tiêu chuẩn sản phẩm và thị trường trong cùng một chuỗi giá trị.