Tự động hóa quy trình thu phí
Trong lộ trình hiện đại hóa hạ tầng giao thương, việc quản lý lệ phí đối với hàng hóa và phương tiện quá cảnh đã bước sang một giai đoạn mới, nơi sự hiện diện của các loại biên lai giấy và quy trình thanh toán thủ công hoàn toàn bị loại bỏ.
Theo các tiêu chuẩn mới được thiết lập tại Thông tư số 121/2025/TT-BTC, mọi khoản lệ phí hải quan, phí lưu kho bãi và phí kiểm soát phương tiện quá cảnh hiện nay được tích hợp trực tiếp vào hệ thống nộp thuế và lệ phí điện tử 24/7. Điều này có nghĩa là ngay khi tờ khai vận chuyển độc lập hoặc tờ khai quá cảnh được đăng ký thành công trên hệ thống, các khoản phí tương ứng sẽ được tự động tính toán dựa trên trọng lượng, chủng loại hàng hóa và lộ trình di chuyển.
Doanh nghiệp không còn phải cử nhân sự trực tiếp đến các chi cục hải quan cửa khẩu để nộp tiền mặt hay nhận biên lai, thay vào đó, lệnh thanh toán được thực hiện tức thì thông qua kết nối giao dịch giữa doanh nghiệp, ngân hàng thương mại và cổng thanh toán của cơ quan Hải quan.
![]() |
| Doanh nghiệp, lái xe khai báo thông tin phương tiện vận tải hàng hóa với lực lượng hải quan tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị. Ảnh: H.Nụ |
Sự minh bạch hóa trong thu phí còn được củng cố bởi cơ chế đối soát dữ liệu thời gian thực. Mỗi phương tiện quá cảnh khi đi qua các trạm kiểm soát hoặc cửa khẩu đều được nhận diện thông qua hệ thống camera thông minh và chip định danh nhận dạng qua tần số vô tuyến (RFID), giúp hệ thống tự động kiểm tra trạng thái hoàn thành nghĩa vụ phí và lệ phí. Nếu doanh nghiệp chưa hoàn tất thanh toán, hệ thống sẽ tự động gửi cảnh báo và tạm dừng quy trình thông quan tại cửa khẩu xuất mà không cần sự can thiệp thủ công của công chức hải quan.
Sự đồng bộ này không chỉ giúp giảm thiểu tối đa các sai sót trong tính toán mà còn loại bỏ hoàn toàn các rủi ro về tiêu cực, nhũng nhiễu vốn thường phát sinh trong môi trường giao dịch trực tiếp.
Đối với các doanh nghiệp logistics quốc tế, việc số hóa 100% chứng từ thu phí mang lại sự an tâm tuyệt đối về tính pháp lý, đồng thời giúp bộ phận kế toán dễ dàng trích xuất dữ liệu, minh bạch hóa chi phí với các đối tác nước ngoài và tối ưu hóa quy trình quyết toán thuế định kỳ.
Ngoài ra, hệ thống điện tử của cơ quan Hải quan còn cho phép lưu trữ lịch sử nộp lệ phí dưới dạng hồ sơ điện tử vĩnh viễn. Các chứng từ thu phí điện tử có mã QR xác thực không chỉ là bằng chứng nộp tiền mà còn là dữ liệu đầu vào quan trọng để hệ thống phân tích rủi ro đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Việc duy trì một lịch sử thanh toán sạch, đúng hạn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao điểm tin cậy, từ đó được hưởng các ưu đãi về giản đơn thủ tục kiểm tra thực tế đối với các lô hàng quá cảnh tiếp theo. Đây là một bước tiến dài trong việc xây dựng một môi trường kinh doanh liêm chính, nơi công nghệ đóng vai trò là "người gác cổng" trung thành, đảm bảo mọi khoản thu của nhà nước được thực hiện công bằng, chính xác và minh bạch nhất.
Tối ưu hóa hiệu quả logistics
Việc số hóa 100% chứng từ thu lệ phí hàng hóa quá cảnh không chỉ là câu chuyện của cơ quan Hải quan mà còn là động lực trực tiếp giúp tăng tốc độ lưu thông của chuỗi cung ứng. Trước đây, việc chờ đợi xác nhận nộp phí và nhận biên lai giấy tại các cửa khẩu biên giới thường gây ra tình trạng ùn tắc cục bộ, làm tăng chi phí lưu kho bãi và giảm năng suất của phương tiện vận tải. Với quy trình mới, chứng từ điện tử sau khi thanh toán thành công sẽ được hệ thống cập nhật trạng thái “đã hoàn thành” lên tờ khai hải quan chỉ trong vòng 1-3 giây.
Điều này cho phép phương tiện quá cảnh di chuyển liên tục qua các điểm kiểm soát mà không cần dừng lại xuất trình giấy tờ nộp tiền, trực tiếp rút ngắn thời gian vận chuyển xuyên biên giới từ 15-20%.
Đối với các tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây hoặc các luồng hàng từ Trung Quốc qua Việt Nam sang Campuchia, Lào, sự nhanh chóng này chính là yếu tố then chốt để cạnh tranh về dịch vụ vận tải quốc tế.
Theo đại diện Ban Giám sát quản lý về hải quan (Cục Hải quan), lợi ích thực tế còn được thể hiện rõ nét trong công tác quản trị rủi ro và bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với hàng quá cảnh. Theo tinh thần của Thông tư số 06/2026/TT-BTC, việc quản lý lệ phí được gắn liền với việc kiểm soát tính hợp pháp của hàng hóa. Khi chứng từ phí được số hóa, hệ thống có thể dễ dàng đối chiếu lượng lệ phí đã nộp với trị giá và số lượng hàng hóa thực tế khai báo. Nếu phát hiện sự bất thường giữa mức phí nộp thấp nhưng khối lượng vận chuyển thực tế lớn (qua hệ thống cân điện tử tự động), AI hải quan sẽ lập tức “gắn cờ” lô hàng để kiểm tra chuyên sâu, ngăn chặn tình trạng gian lận thương mại hoặc trà trộn hàng giả xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Doanh nghiệp làm ăn chân chính nhờ đó được bảo vệ trong một môi trường cạnh tranh sòng phẳng, nơi mọi hành vi né phí hoặc khai sai đều bị hệ thống phát hiện sớm dựa trên các thuật toán đối soát tự động, đại diện Ban Giám sát quản lý về hải quan nhấn mạnh.
Đáng chú ý, việc chuyển đổi sang chứng từ thu lệ phí điện tử giúp doanh nghiệp chủ động hoàn toàn trong việc lập kế hoạch tài chính. Thông qua tài khoản quản trị tập trung trên cổng thông tin hải quan, doanh nghiệp có thể theo dõi tổng số phí dự kiến cho các lô hàng sắp về, thực hiện nộp trước hoặc nộp gộp cho nhiều tờ khai để giảm chi phí giao dịch ngân hàng. Tính năng này đặc biệt hữu ích cho các doanh nghiệp FDI có lưu lượng hàng quá cảnh lớn, giúp họ quản lý dòng tiền hiệu quả và tránh được các khoản phạt chậm nộp do lỗi chủ quan của con người.
Sự kết hợp giữa minh bạch hóa chi phí và số hóa quy trình đã biến thủ tục lệ phí vốn bị coi là “phụ trợ” trở thành một mắt xích mượt mà trong hệ sinh thái của hệ thống công ngệ thông tin, đóng góp tích cực vào mục tiêu biến Việt Nam thành trung tâm logistics năng động và hiện đại hàng đầu khu vực trong giai đoạn 2026 - 2030.
Sự nhất quán từ khung pháp lý của Thông tư số 121/2025/TT-BTC đến hạ tầng công nghệ nộp phí 24/7 đã tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, giảm thiểu chi phí và thời gian cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi mọi rào cản về giấy tờ được dỡ bỏ, doanh nghiệp cần chủ động chuẩn hóa quy trình kế toán thuế, cập nhật các tính năng thanh toán trực tuyến và tận dụng tối đa dữ liệu điện tử để khẳng định vị thế bền vững trong dòng chảy thương mại toàn cầu hóa hiện nay.