Chủ nhật 08/11/2026 01:07
Thời tiết: Hà Nội 25°C
Đà Nẵng 25°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 24°C
TP Hồ Chí Minh 27°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Chính sách và cuộc sống
aa

Luật Hải quan: Cách mạng công nghệ trong quản lý hải quan hiện đại

Nụ Bùi
Việc thực thi Luật Hải quan 2014 đã tạo ra cuộc cách mạng trong quản lý nhà nước về hải quan, chuyển đổi mạnh mẽ từ kiểm tra thủ công sang ứng dụng công nghệ số và thiết bị hiện đại, giúp tối ưu hóa luồng hàng hóa và kiểm soát chặt chẽ an ninh thương mại.
Sửa đổi Luật Hải quan: Xây dựng nền tảng thể chế đáp ứng xu thế của dòng chảy thương mại Sửa đổi Luật Hải quan: Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế để vận hành hệ thống số Sửa đổi Luật Hải quan: Nội luật hóa mô hình quản trị số toàn diện Luật Hải quan: Khơi thông điểm nghẽn, kiến tạo môi trường kinh doanh

Bước đột phá từ công nghệ soi chiếu

Luật Hải quan 2014 ra đời đã xác lập một hành lang pháp lý vững chắc cho việc thay đổi phương thức kiểm tra thực tế hàng hóa. Thay vì phụ thuộc vào sự hiện diện trực tiếp của con người, Luật quy định việc kiểm tra được thực hiện bằng máy móc, thiết bị kỹ thuật, đặc biệt là biện pháp kiểm tra không xâm nhập bằng máy soi.

Đây là cơ sở cốt lõi để ngành Hải quan đẩy mạnh trang bị máy soi container, máy soi hành lý tại các cửa khẩu, cảng biển và cảng hàng không. Việc ứng dụng công nghệ soi chiếu không chỉ giảm thiểu sự can thiệp vật lý vào hàng hóa mà còn là “chìa khóa” để giải quyết bài toán thông quan nhanh trong bối cảnh khối lượng công việc tăng trưởng quá lớn.

Báo cáo tổng kết thi hành Luật Hải quan 2014 từ Cục Hải quan cho thấy, áp lực của cơ quan Hải quan trong thập kỷ qua là vô cùng lớn. Thống kê chỉ rõ, từ năm 2014 đến nay, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa có xu hướng tăng mạnh hàng năm. Cụ thể, số lượng tờ khai đã tăng trưởng tới 67%, từ mức 8,4 triệu tờ khai mỗi năm vào năm 2015 lên tới 20,65 triệu tờ khai mỗi năm vào năm 2025.

đồng bộ thủ tục hải quan với các chuẩn mực mới của Luật Giao dịch điện tử mà còn thiết lập một cơ chế kiểm chứng nghiêm ngặt đối với tư cách pháp lý của khối doanh nghiệp FDI và thương nhân nước ngoài.
Cơ quan Hải quan triển khai thực hiện giám sát bằng camera trực tuyến.

Trong giai đoạn 2015-2025, trung bình mỗi năm cơ quan Hải quan phải xử lý 13,87 triệu tờ khai, một con số khổng lồ khi so sánh với mức trung bình của giai đoạn 2012-2014 (chỉ khoảng hơn 6 triệu tờ khai/năm). Điều này đồng nghĩa với việc hiệu suất làm việc của hệ thống đã phải tăng gấp đôi để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Đặc biệt theo Ban Pháp chế (Cục Hải quan), sự thành công của Luật Hải quan 2014 còn được thể hiện rõ nét qua sự thay đổi tích cực trong cơ cấu phân luồng kiểm tra. Nếu như ở giai đoạn tiền thực thi (2012-2014), tỷ lệ trung bình là 59,8% luồng Xanh; 29,7% luồng Vàng và 10,5% luồng Đỏ, thì kể từ khi Luật có hiệu lực (1/1/2015), tỷ lệ luồng Đỏ (kiểm tra thực tế) đã giảm xuống chỉ còn khoảng một nửa.

Phân tích chi tiết số liệu cho thấy một lộ trình giảm tải khoa học: Năm 2015, luồng Đỏ chiếm 7,86% trên tổng số 8,68 triệu tờ khai. Đến năm 2021, dù số lượng tờ khai tăng lên 13,37 triệu, tỷ lệ luồng Đỏ vẫn kéo giảm xuống còn 5,38%. Bước sang năm 2024, con số này tiếp tục giảm xuống 3,47% và đạt mức thấp kỷ lục vào năm 2025 với chỉ 2,65% luồng Đỏ trên tổng số 20,26 triệu tờ khai.

Song song với việc giảm áp lực kiểm tra thực tế, tỷ lệ luồng Xanh (thông quan ngay) ghi nhận sự tăng trưởng bền vững và bứt phá ở giai đoạn cuối. Từ mức 54,23% năm 2015, luồng Xanh đã tăng lên 64,42% năm 2021 và chạm mốc 66,9% vào năm 2025. Sự ổn định của luồng Xanh trong ngưỡng 55-60% xuyên suốt nhiều năm và vọt lên gần 67% vào cuối giai đoạn, cho thấy năng lực đánh giá rủi ro và độ tin cậy của thiết bị soi chiếu đã đạt đến trình độ rất cao. Việc giảm dần tỷ lệ luồng Vàng từ 37,91% (năm 2015) xuống còn 30,44% (năm 2025) cũng phản ánh sự minh bạch và tự động hóa trong khâu kiểm tra hồ sơ.

Nhấn mạnh kết quả đạt được của Luật Hải quan, Cục Hải quan cho rằng, máy móc thiết bị không chỉ giúp rút ngắn thời gian thông quan mà còn là công cụ đắc lực để nâng cao hiệu quả kiểm tra, đóng góp trực tiếp vào việc cải thiện môi trường kinh doanh.

Tạo dựng hệ sinh thái giám sát tự động

Đại diện Ban Pháp chế cho rằng, công tác giám sát hải quan theo Luật Hải quan 2014 đã chuyển dịch cơ bản về cả mục tiêu và phương thức vận hành, đặc biệt là tại các địa bàn trọng điểm. Trên cơ sở pháp lý của Luật, các phương thức giám sát hiện đại như seal định vị điện tử, hệ thống camera giám sát trực tuyến và cân điện tử đã được triển khai toàn diện. Việc áp dụng seal định vị điện tử (GPS) là một bước đột phá trong quản lý hàng hóa vận chuyển.

Hệ thống này cho phép cán bộ hải quan theo dõi, giám sát container qua sim định vị GPS theo thời gian thực. Mọi biến động của lô hàng từ cửa khẩu đi đến cửa khẩu đích đều được ghi nhận trực tuyến, dữ liệu này không chỉ hỗ trợ giám sát 24/7 mà còn là bằng chứng pháp lý quan trọng để xử lý các vụ việc vi phạm.

Hiệu quả của seal định vị điện tử được chứng minh qua việc khắc phục triệt để những hạn chế của phương pháp niêm phong truyền thống. Tín hiệu truyền về liên tục giúp cơ quan Hải quan kiểm soát toàn bộ quá trình di chuyển, tạo sức răn đe mạnh mẽ đối với các hành vi gian lận, rút ruột hoặc đánh tráo hàng hóa trong quá trình vận chuyển. Thực tế triển khai cho thấy 100% hàng hóa gắn seal định vị điện tử đều đi đúng lộ trình và thời gian đã đăng ký; không phát hiện bất kỳ trường hợp can thiệp trái phép nào vào container. Điều này đảm bảo an ninh tuyệt đối cho hàng hóa chịu sự giám sát hải quan, đồng thời giảm thiểu nhân lực tuần tra thủ công.

Bên cạnh đó, hệ thống camera giám sát đã góp phần quan trọng vào việc minh bạch hóa nghiệp vụ hải quan. Hệ thống này hỗ trợ đắc lực trong việc giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải và hàng hóa ra vào kho ngoại quan. Việc ứng dụng camera không chỉ nâng cao năng lực kiểm soát mà còn rút ngắn thời gian thông quan, giải phóng hàng hóa nhanh chóng, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp.

Đặc biệt, việc vận hành Hệ thống quản lý tự động kho, bãi, cảng (VASSCM) đã tạo ra sự kết nối đồng bộ giữa quy trình quản lý của hải quan và quy trình vận hành của doanh nghiệp cảng, kho bãi.

VASSCM cho phép cơ quan Hải quan quản lý xuyên suốt chuỗi cung ứng hàng hóa từ khi khai báo manifest điện tử cho đến khi ra khỏi khu vực giám sát. Hệ thống giúp nắm bắt kịp thời các thông tin về vị trí lưu giữ, tình trạng hàng tồn, hay các thay đổi nguyên trạng bao bì. Trước đây, nhiều công đoạn nghiệp vụ như dỡ hàng từ phương tiện hay đưa hàng ra khỏi khu vực giám sát phải thực hiện thủ công qua văn bản giấy, thì nay đã được tự động hóa hoàn toàn.

Sự thay đổi này giúp loại bỏ triệt để các thủ tục rườm rà, giảm áp lực cho công chức và cho phép cơ quan Hải quan tối ưu hóa nguồn nhân lực cho các bộ phận nghiệp vụ chuyên sâu khác. Có thể khẳng định, sự kết hợp giữa thiết bị kiểm tra hiện đại và hệ thống giám sát tự động đã hiện thực hóa mục tiêu quản lý hải quan hiện đại, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhưng vẫn thúc đẩy giao thương phát triển mạnh mẽ, Cục Hải quan khẳng định.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Bộ Tài chính vừa công khai lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp cho người nộp thuế trạng thái 03, 06. Các chuyên gia cho rằng, chính sách này góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm và hỗ trợ làm sạch dữ liệu trong quản lý thuế.
Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận. Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2026–2030 đặt ra định hướng là chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống sang kiểm tra trên nền tảng công nghệ số, khai thác dữ liệu tập trung và quản lý rủi ro.
Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Cục Thuế vừa có Công văn số 7943/CT-QLNT hướng dẫn về chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, chế biến quặng chì, kẽm của Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hoàng Nam tại tỉnh Thái Nguyên. Trong đó, cơ quan thuế lưu ý việc xác định sản lượng và giá tính thuế phải căn cứ vào đặc điểm tài nguyên khai thác, quy trình chế biến và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các đề xuất của Bộ Tài chính nếu được thực hiện không chỉ góp phần tháo gỡ gánh nặng tài chính, mà còn tạo động lực xử lý mã số thuế tồn đọng, mở ra cơ hội cho người nộp thuế trở lại thị trường.
Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên mức thanh toán không dùng tiền mặt khi xác định chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 5 triệu đồng lên nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.
Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Cục Thuế vừa ban hành Công văn số 7978/CT-NVT yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố chấn chỉnh tình trạng tiếp nhận, xử lý hồ sơ chưa thống nhất, đồng thời hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm.
Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Từ thực tiễn triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế, đến các cơ chế đặc thù giải quyết các vướng mắc đang được Bộ Tài chính đề xuất đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương thức quản lý theo vòng đời người nộp thuế, nâng cao tính minh bạch của dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đáng tin cậy hơn.
Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Nhiều ý kiến góp ý từ các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và tư vấn thuế đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong đề xuất cơ chế đặc thù tháo gỡ những tồn đọng về mã số thuế. Các ý kiến cho rằng, các đề xuất này không chỉ góp phần giảm gánh nặng tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực về chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chính sách hỗ trợ về thuế tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đặc biệt, chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027 được kỳ vọng góp phần giảm áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Bài 3: Tháo gỡ rào cản chính sách trong xử lý mã số thuế tồn đọng

Trước những vướng mắc kéo dài trong quá trình xử lý người nộp thuế trạng thái 03, 06, Bộ Tài chính đã xây dựng hai dự thảo Nghị quyết thuộc thẩm quyền Quốc hội và Chính phủ. Các đề xuất tập trung xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp, nghĩa vụ hồ sơ khai thuế và giảm mức phạt đối với một số hành vi chậm nộp hồ sơ, nhằm tạo điều kiện để người nộp thuế hoàn tất thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Tháo gỡ "nút thắt" cho hàng triệu mã số thuế tồn đọng: Cục Thuế nói gì trước nhiều đề xuất đột phá?

Trước thực trạng hàng triệu mã số thuế rơi vào trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế (MST), tạo nên gánh nặng pháp lý kéo dài nhiều năm, Cục Thuế đã có buổi đối thoại trực tiếp, cởi mở với chuyên gia luật doanh nghiệp Trần Vũ Hải và một số người dân để lắng nghe hàng loạt đề xuất tháo gỡ mang tính đột phá.
Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế

Cục Thuế vừa có Công văn số 8232/CT-PC hướng dẫn Thuế tỉnh Đồng Tháp tháo gỡ vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp hoặc không nộp Thông báo doanh thu và thông báo số tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Hộ kinh doanh cần lưu ý gì để không mất quyền lợi giảm 30% thuế thu nhập cá nhân?

Chính sách giảm 30% thuế thu nhập trong hai năm 2026 và 2027 mang lại lợi ích đáng kể cho hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, chuyên gia cảnh báo, nếu không kiểm soát chặt doanh thu, hóa đơn, chứng từ và chi phí được trừ, người kinh doanh có thể phải nộp bổ sung số thuế đã được giảm hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế lớn hơn dự kiến.
Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Điều kiện khấu trừ thuế khi thanh toán qua bên thứ ba

Doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ thông qua bên thứ ba phải quy định cụ thể việc ủy quyền hoặc chỉ định thanh toán trong hợp đồng bằng văn bản. Bên thứ ba nhận hoặc thực hiện thanh toán phải là tổ chức, cá nhân đang hoạt động hợp pháp.
Đơn giản hóa bộ tiêu chí khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế năm 2026

Đơn giản hóa bộ tiêu chí khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế năm 2026

Cục Thuế vừa có Công văn số 8044/CT-VP triển khai khảo sát đo lường sự hài lòng của người nộp thuế (NNT) đối với sự phục vụ của cơ quan Thuế năm 2026. Hoạt động khảo sát được thực hiện từ ngày 25/10 đến hết ngày 31/12/2026, nhằm đánh giá mức độ hài lòng của người nộp thuế (NNT) đối với toàn ngành Thuế và từng cơ quan thuế.