![]() |
| Cục Thuế lật tẩy những hành vi gian lận hoàn thuế GTGT |
Theo báo cáo tại Hội nghị Lắng nghe và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác hoàn thuế GTGT, công tác kiểm tra hoàn thuế từ đầu năm đến nay đã đạt nhiều kết quả quan trọng, thể hiện rõ tính hiệu quả trong việc phân luồng và đánh giá rủi ro.
Ở khâu kiểm tra trước hoàn thuế, cơ quan Thuế đã kiểm tra 3.392 hồ sơ đề nghị hoàn với tổng số tiền thuế đề nghị kiểm tra đạt 64.024,3 tỷ đồng. Trong đó, tỷ lệ giải quyết hoàn trả cho người nộp thuế đạt 88,3% (tương ứng 56.519,0 tỷ đồng). Số thuế không được khấu trừ, không được hoàn 1.177,6 tỷ đồng; số truy thu 254,4 tỷ đồng; tiền phạt và tiền chậm nộp 224,4 tỷ đồng.
Đáng chú ý, áp lực hoàn thuế tăng vọt vào tháng 8/2026 khi số tiền đề nghị hoàn lên tới 17.530,9 tỷ đồng gần gấp 2 lần so với tháng 7.
Đối với khâu kiểm tra sau hoàn thuế, cơ quan Thuế đã ban hành 5.990 quyết định kiểm tra (đạt 146% so với cùng kỳ), rà soát tổng số tiền đã hoàn là 29.120,0 tỷ đồng. Qua đó, đã phát hiện 1.817 quyết định có số truy thu và phạt với tổng số tiền xử lý đạt 332,2 tỷ đồng (bằng 157% so với cùng kỳ).
Đánh giá chung cho thấy, tỷ lệ kiểm tra trước hoàn (2,6%), trong khi, tỷ lệ kiểm tra sau hoàn là (1,1%). Chênh lệch này cho thấy việc phân loại rủi ro hồ sơ hoàn thuế đang đi đúng hướng. Nhóm hồ sơ rủi ro cao được chặn ngay ở khâu tiền kiểm, còn nhóm hoàn trước - kiểm tra sau có mức độ sai phạm thấp hơn nhưng vẫn cần duy trì hậu kiểm. Việc chuyển dịch dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật thuế.
Qua công tác kiểm tra, cơ quan Thuế đã chỉ các dấu hiệu nghi vấn gian lận phổ biến nhất: Đó là các doanh nghiệp vi phạm thường lập chuỗi giao dịch mua bán lòng vòng qua nhiều doanh nghiệp trung gian nhằm sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp rủi ro. Dòng tiền thanh toán qua ngân hàng có dấu hiệu bất thường, quay vòng. Sử dụng đối tác nước ngoài không tồn tại hoặc không phát sinh mua bán thực tế (chủ yếu qua đường tiểu ngạch).
Các hành vi vi phạm chủ yếu tập trung vào 3 nhóm:
Thuế GTGT đầu ra: Kê khai sai đối tượng hoặc không đáp ứng điều kiện áp dụng thuế suất 0%; khai thiếu doanh thu kỳ hoàn; thực hiện xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu chuyển tiếp không đúng quy định; áp dụng thuế suất thấp hơn thực tế hoặc không kê khai các khoản hỗ trợ nhận từ nước ngoài thuộc diện chịu thuế.
Thuế GTGT đầu vào: Khấu trừ thuế của hàng hóa, dịch vụ không phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc mua hộ khách hàng nước ngoài; khấu trừ trùng hóa đơn; không phân bổ đúng thuế đầu vào cho doanh thu không chịu thuế; hoặc không điều chỉnh ưnggiảm thuế đầu vào khi có hàng hóa trả lại.
Chứng từ thanh toán: Thiếu chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; đối tượng thanh toán không đúng hợp đồng hoặc không có ủy quyền; bù trừ công nợ nhưng hợp đồng không ghi nhận; hoặc đã hết hạn thanh toán, chưa trả tiền nhưng vẫn lập hồ sơ đề nghị hoàn.
Để tháo gỡ triệt để các tồn tại trên, Ban Kiểm tra (Cục Thuế) đề xuất nguyên tắc hành động: Rút ngắn thời gian kiểm tra, xác minh hồ sơ, nhưng không giảm yêu cầu kiểm soát rủi ro.
Theo đó cần chia hồ sơ thành 3 nhóm rõ ràng (hoàn ngay, bổ sung giải trình đơn giản, và có dấu hiệu rủi ro cao cần xác minh chuyên sâu). Với từng hồ sơ xác định rõ đang ở công đoạn nào, nguyên nhân chậm, bộ phận chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành; ưu tiên xử lý dứt điểm hồ sơ đã đủ căn cứ.
Chuẩn hóa điểm dừng xác minh: tập trung ở cấp F0 – F1. Nếu F0 chứng minh giao dịch với F1 là có thật (hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, kho bãi, vận chuyển) và F1 hoạt động thì dừng xác minh và giải quyết hoàn thuế ngay.
Thực hiện hoàn thuế từng phần, giải quyết hoàn ngay phần giá trị hóa đơn hợp lệ để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; tạm dừng đúng phần giá trị hóa đơn đang nghi vấn để tách ra kiểm tra, xác minh riêng.
Thống nhất thời hạn phản hồi xác minh liên tỉnh: Quy định khung thời gian trả lời bắt buộc. Nếu quá hạn không có phản hồi, cơ quan thuế căn cứ vào hồ sơ thực tế của F0 để quyết định hoàn thuế, chuyển phần nghi vấn sang kiểm tra sau hoàn.
Song song đó, Cục Thuế quán triệt siết chặt kỷ cương công chức theo Chỉ thị 17/CT-CT, xác định rõ trách nhiệm người xử lý và phê duyệt, xử lý nghiêm tình trạng chậm trễ kéo dài.
Về mặt công nghệ, ngành Thuế đẩy mạnh ứng dụng CNTT, tự động hóa đối chiếu hóa đơn điện tử, phân tích đồ thị giao dịch, chấm điểm rủi ro và cảnh báo theo hệ số K nhằm tiến tới quản lý hoàn thuế hoàn toàn trên nền tảng dữ liệu số./.