![]() |
| Nhiều trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử theo đề xuất mới. Ảnh: VH. |
Mở rộng phạm vi áp dụng hóa đơn điện tử
Dự thảo Nghị định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử được xây dựng gồm 5 chương, 43 điều, trên cơ sở kế thừa cấu trúc của hệ thống văn bản hiện hành, đồng thời sắp xếp lại theo hướng rõ ràng, dễ tra cứu và thuận lợi trong tổ chức thực hiện.
Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là quy định về việc áp dụng hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Theo cơ quan soạn thảo, các quy định này cơ bản kế thừa quy định hiện hành về đối tượng sử dụng hóa đơn, đồng thời có sự bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh phát triển của nền kinh tế số và yêu cầu quản lý trong giai đoạn mới.
Theo đó, dự thảo đã phân định rõ các nhóm đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử có mã và không có mã của cơ quan Thuế, cũng như hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền. Bên cạnh đó, một số lĩnh vực mới như chứng khoán, tài sản mã hóa được bổ sung vào nhóm đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế, phù hợp với đặc thù giao dịch và thông lệ quản lý.
Đáng chú ý, dự thảo đã bổ sung các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử. Đây là nội dung mới nhằm phản ánh đúng bản chất của một số loại giao dịch, đồng thời góp phần giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý.
Các trường hợp này bao gồm: hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thuộc diện chịu thuế; hoạt động bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ thông qua sàn thương mại điện tử đã được khấu trừ và nộp thuế theo từng giao dịch; đại lý bảo hiểm, cá nhân hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp bảo hiểm đã được thực hiện khấu trừ thuế; cũng như một số giao dịch tài chính đặc thù như tiền gửi, ngoại tệ, sản phẩm phái sinh.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng quy định rõ các trường hợp không phải lập hóa đơn nhằm bảo đảm sự thống nhất với quy định của pháp luật về thuế GTGT, đặc biệt đối với các hoạt động nội bộ doanh nghiệp như tiêu dùng nội bộ, điều chuyển tài sản hoặc tái cơ cấu doanh nghiệp. Việc làm rõ nội dung này góp phần hạn chế phát sinh nghĩa vụ lập hóa đơn trong những trường hợp không cần thiết.
Một điểm mới khác là quy định hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền không áp dụng đối với hoạt động bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số. Đồng thời, đối với các tổ chức, cá nhân đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định hiện hành thì không bắt buộc phải đăng ký thêm hình thức hóa đơn từ máy tính tiền. Quy định này được đánh giá là góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong quá trình thực hiện.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, sau hơn 5 năm triển khai các quy định về hóa đơn điện tử tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, hệ thống này đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Việc áp dụng hóa đơn điện tử góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế, tăng cường tính minh bạch, hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí liên quan đến in ấn, lưu trữ và sử dụng hóa đơn, đồng thời hạn chế rủi ro so với hóa đơn giấy. Bên cạnh đó, dữ liệu hóa đơn điện tử cũng được xác định là một trong những nền tảng quan trọng trong xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính.
![]() |
| Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH bao bì Atlantic. Ảnh: VH. |
Bổ sung tiêu chí phân loại theo từng mô hình kinh doanh
Đồng tình với các nội dung bổ sung quan trọng được đưa ra tại dự thảo, song cũng có ý kiến cho rằng, dự thảo vẫn còn một số nội dung cần tiếp tục được làm rõ để bảo đảm tính thống nhất và thuận lợi trong quá trình áp dụng.
Theo bà Nguyễn Thị Thùy Dương, Tổng giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn thuế Hinh Lam, dự thảo nên làm rõ hơn tiêu chí xác định loại hóa đơn áp dụng. Thực tế thời gian qua cho thấy, một số doanh nghiệp và hộ kinh doanh gặp khó khăn trong việc lựa chọn hình thức hóa đơn phù hợp, đặc biệt đối với các lĩnh vực như bán lẻ, dịch vụ ăn uống, hệ thống cửa hàng chuỗi hoặc các mô hình kinh doanh kết hợp giữa bán trực tiếp và bán qua nền tảng số.
![]() |
| "Thực tế thời gian qua cho thấy, một số doanh nghiệp và hộ kinh doanh gặp khó khăn trong việc lựa chọn hình thức hóa đơn phù hợp", bà Nguyễn Thị Thùy Dương. |
Việc lựa chọn loại hóa đơn không chỉ liên quan đến tên gọi mà còn gắn với phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh, điều kiện kỹ thuật và yêu cầu quản lý. Do đó, nếu tiêu chí phân loại chưa đủ rõ ràng, có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các đối tượng.
Từ thực tế này, bà Dương đề xuất, cơ quan soạn thảo nên nghiên cứu bổ sung các tiêu chí phân loại cụ thể hơn theo từng mô hình kinh doanh, đồng thời đưa ra các ví dụ minh họa tương ứng. Việc này sẽ hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh dễ dàng xác định loại hóa đơn phù hợp, bảo đảm tuân thủ quy định và thuận lợi trong quá trình triển khai.
Liên quan đến việc xử lý sai sót đối với hóa đơn đã lập, bà Dương cho biết, qua thực tiễn triển khai, các tình huống phát sinh chủ yếu tập trung ở giai đoạn sau khi hóa đơn đã phát hành, với các trường hợp như sai thông tin người mua, mã số thuế, số tiền, thuế suất, thời điểm lập hóa đơn hoặc thay đổi thông tin sau khi dữ liệu đã được gửi đến cơ quan Thuế.
Trong bối cảnh đó, nếu quy định chỉ dừng ở mức nguyên tắc chung, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc xử lý thống nhất. Do vậy, dự thảo nên quy định rõ hơn hoặc dẫn chiếu cụ thể về nguyên tắc xử lý sai sót, các trường hợp cần điều chỉnh, thay thế hóa đơn, cũng như các trường hợp không cần điều chỉnh. Đồng thời, cần phân biệt rõ giữa sai sót làm thay đổi nghĩa vụ thuế và sai sót mang tính thông tin hành chính.
Đối với vấn đề xử lý sự cố kỹ thuật trong quá trình lập, truyền nhận hóa đơn điện tử cũng được nhiều ý kiến quan tâm. Thực tế cho thấy, khi hệ thống của doanh nghiệp, đơn vị cung cấp dịch vụ hoặc cơ quan tiếp nhận dữ liệu gặp sự cố, việc xác định loại chứng cứ cần lưu giữ, hình thức thông báo, thời hạn truyền lại dữ liệu cũng như trách nhiệm liên quan vẫn còn chưa thống nhất.
Về nội dung này, bà Dương đề nghị làm rõ quy định loại chứng cứ điện tử được chấp nhận trong trường hợp phát sinh sự cố; thời hạn khắc phục và truyền lại dữ liệu; nguyên tắc xử lý đối với trường hợp chậm truyền dữ liệu do lỗi hệ thống không thuộc về người bán; cũng như trách nhiệm của các tổ chức cung cấp dịch vụ trong việc hỗ trợ, khắc phục sự cố.
Ở góc độ khác, ông Trần Mạnh Hùng, Luật sư điều hành Công ty Luật TNHH Quốc tế BMVN, cho rằng, việc bổ sung quy định liên quan đến trách nhiệm lập hóa đơn của đơn vị quản lý sàn thương mại điện tử đối với người bán là cá nhân, hộ kinh doanh cần được nghiên cứu kỹ. Theo đó, cần đánh giá đầy đủ tác động về mặt pháp lý, khả năng thực hiện cũng như ý kiến của các chủ thể liên quan để bảo đảm tính khả thi khi triển khai.