![]() |
| Ngành Thuế đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, Big data để cảnh báo, phòng ngừa các gian lận hoàn thuế GTGT |
Nhận diện vi phạm qua thanh tra, kiểm tra
Thuế GTGT đóng vai trò là nguồn thu quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN). Chính sách hoàn thuế GTGT được thiết kế nhằm khuyến khích xuất khẩu, hỗ trợ vốn lưu động cho doanh nghiệp và đảm bảo tính liên tục của chuỗi giá trị. Tuy nhiên, lợi dụng cơ chế “tự khai, tự nộp” và chính sách khuyến khích đầu tư, một bộ phận đối tượng lợi dụng để thực hiện các hành vi gian lận với quy mô ngày càng lớn và tính chất phức tạp.
Theo TS Nguyễn Thị Hồng Thuý, Trưởng khoa Nghiệp vụ 2, Trường cán bộ Thanh tra Chính phủ cho biết, qua công tác thanh tra, kiểm tra, nhiều đường dây mua bán hóa đơn xuyên tỉnh, xuyên quốc gia đã bị bóc tách.
Một trong những thủ đoạn phổ biến nhất hiện nay là thiết lập các chuỗi doanh nghiệp trung gian (F1, F2, F3...) để “rửa” hóa đơn. Các đối tượng thường thành lập doanh nghiệp, nhưng không có hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế, đặt trụ sở tại các địa chỉ ảo hoặc nhà thuê. Đặc điểm nhận diện của các đơn vị này là thay đổi người đại diện pháp luật liên tục, vốn điều lệ ảo và tỷ lệ tài sản cố định trên doanh thu gần như bằng không.
Thông qua việc mua bán hóa đơn vòng vèo qua nhiều tầng nấc, doanh nghiệp ở cuối chuỗi (doanh nghiệp F0 - đơn vị đề nghị hoàn thuế) sẽ có bộ hồ sơ đầu vào trông rất “sạch” và đầy đủ về mặt chứng từ. Bản chất của hành vi này là tạo ra một “vòng xoáy” hóa đơn để nâng khống giá trị hàng hóa hoặc giả mạo hồ sơ cho những lô hàng không có thực. Khi cơ quan thuế tiến hành xác minh ngược (truy xuất nguồn gốc), các mắt xích ở giữa thường đã bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc ngừng hoạt động, khiến việc truy tìm nguồn gốc dòng tiền và hàng hóa trở nên vô cùng khó khăn.
Một thủ đoạn khác đó là “vẽ” dòng tiền và hồ sơ xuất khẩu khống. Gian lận của nhóm này thường tập trung vào các mặt hàng có quy định hoàn thuế thông thoáng hoặc khó kiểm soát định mức sản xuất như: nông, lâm, thủy sản và hàng công nghệ cao. Đối với hàng công nghệ, các đối tượng lợi dụng tính chất giá trị lớn, nhỏ gọn để thổi phồng giá trị xuất khẩu.
Tinh vi hơn, để đáp ứng điều kiện hoàn thuế phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, các đối tượng đã thực hiện thủ đoạn “vẽ” ra dòng tiền. Tiền thực chất được chuyển lậu ra nước ngoài rồi chuyển ngược về Việt Nam dưới danh nghĩa thanh toán hợp đồng xuất khẩu. Một ví dụ điển hình liên quan đến xuất khẩu tinh bột sắn của công ty Thuận An, cơ quan Thuế Việt Nam đã phối hợp với phía Trung Quốc để xác minh.
Kết quả cho thấy, mặc dù các doanh nghiệp phía Trung Quốc có tồn tại nhưng họ không thực hiện bất kỳ giao dịch nhập khẩu tinh bột sắn nào với phía Việt Nam. Điều này chứng tỏ toàn bộ hồ sơ xuất khẩu, tờ khai hải quan và chứng từ thanh toán đều là kịch bản dàn dựng nhằm chiếm đoạt tiền thuế.
Bên cạnh gian lận hoàn thuế, vi phạm trong quản lý thuế còn thể hiện ở việc sử dụng hóa đơn khống để giảm số thuế phải nộp. Tình trạng hóa đơn “vô chủ” sử dụng hóa đơn của các doanh nghiệp đã đóng mã số thuế hoặc bỏ địa chỉ kinh doanh đang gây “nhiễu” hệ thống quản lý.
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
Theo TS. Nguyễn Thị Hồng Thuý, để khắc phục tình trạng này, một hệ thống giải pháp đồng bộ từ thể chế đến công nghệ đã được đề xuất:
Trước hết cần hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu lớn (Big Data) theo đó cần áp dụng triệt để nguyên tắc “quản lý rủi ro” và quản lý tuân thủ kết hợp với việc sủ dụng khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để xây dựng các tiêu thức rủi ro cảnh báo, phòng ngừa. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) giúp thiết lập các bộ tiêu chí cảnh báo rủi ro như: doanh thu tăng đột biến, tỷ lệ thuế GTGT nộp trên doanh thu quá thấp, hoặc các quan hệ liên kết đáng ngờ giữa các mã số thuế. Qua đó giúp cơ quan thuế sẽ tập trung nguồn lực vào các đối tượng có dấu hiệu “nguy cơ cao” ngay từ khi doanh nghiệp mới thành lập thay vì kiểm tra dàn trải.
Tăng cường xác minh và đối chiếu quốc tế. Đây là giải pháp trực tiếp giải quyết vấn đề gian lận xuất khẩu khống. Việt Nam đang tăng cường trao đổi thông tin với cơ quan thuế các nước trong khu vực và thế giới để xác nhận thực tế giao dịch. Việc ký kết các thỏa thuận hợp tác, điển hình như với cơ quan thuế Trung Quốc, giúp “vươn dài cánh tay” kiểm soát ra ngoài biên giới, phá vỡ các kịch bản xuất khẩu ảo.
Bên cạnh đó, ngành Thuế cần tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát. Trong bối cảnh sáp nhập không còn thanh tra thuế, thì bộ phận kiểm tra thuế không chỉ dừng lại đối chiếu hồ sơ thuần mà phải trở thành một hệ thống kiểm soát thông minh, kết hợp phòng ngừa và xử lý vi phạm
Cùng với các giải pháp công nghệ, yếu tố con người và thể chế vẫn đóng vai trò quyết định. Do đó, ngành Thuế cần nghiên cứu, sửa đổi các quy định về điều kiện thành lập doanh nghiệp, yêu cầu cao hơn về vốn, tài sản đối với các ngành nghề có rủi ro cao.
Về con người cần tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác kiểm tra, am hiểu pháp luật, thành thạo công nghệ thông tin. Cán bộ làm công tác kiểm tra cần được định kỳ đào tạo cập nhật kiến thức, kỹ năng, tăng cường kiểm tra nội bộ để phòng ngừa các hành vi sai phạm có thể xảy ra.
Cuộc đấu tranh với gian lận thuế GTGT là một hành trình dài và đầy thách thức. Chỉ khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa việc hoàn thiện thể chế pháp luật, ứng dụng công nghệ hiện đại và sự quyết liệt trong công tác kiểm tra, giám sát mới có thể bảo vệ được nguồn thu ngân sách của quốc gia, đảm bảo sự công bằng và minh bạch cho nền kinh tế.