![]() |
| Nhận diện thủ đoạn trục lợi hoàn thuế qua sàn thương mại điện tử |
Thủ đoạn phổ biến núp bóng thương mại điện tử
Thương mại điện tử đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của kinh tế số. Theo Cục Thuế, quy mô thị trường TMĐT Việt Nam tăng mạnh trong những năm gần đây; năm 2025, thị trường ước đạt khoảng 32 tỷ USD, với khoảng 65 triệu người tiêu dùng trực tuyến. Cùng với đó, số thu thuế từ hoạt động TMĐT năm 2025 đạt gần 208,8 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5% so với năm 2024.
Cơ quan Thuế từng chỉ ra một số vướng mắc trong quản lý TMĐT như: nhiều hộ, cá nhân kinh doanh không đăng ký kinh doanh, không có mã số thuế, không có địa điểm cố định; tên sử dụng trên nền tảng khác với tên thật; dữ liệu từ sàn và các nguồn khác còn thiếu; thanh toán qua nhiều kênh và kinh doanh xuyên biên giới chưa được kiểm soát đầy đủ.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ tự giác, mà còn phải nhận diện sớm những mô hình có dấu hiệu gian lận. Đặc biệt, với hoạt động xuất khẩu hàng hóa qua sàn TMĐT ở nước ngoài, hồ sơ hoàn thuế không thể chỉ dừng ở hóa đơn, mà phải chứng minh được giao dịch có thật, hàng hóa có thật, dòng tiền có thật và việc xuất bán hàng hóa ra ngoài Việt Nam có thật. Qua thực tiễn quản lý, các đơn vị chức năng đã nhận diện 5 thủ đoạn phổ biến của một số đơn vị kinh doanh TMĐT nhằm trục lợi chính sách thuế.
Thứ nhất là, lập hệ thống gian hàng ảo để quay vòng hóa đơn. Các đối tượng có thể tạo nhiều gian hàng trên sàn TMĐT bằng thông tin cá nhân giả, thông tin thuê mượn hoặc thông tin không chính chủ, sau đó tự tạo đơn hàng giá trị lớn. Giao dịch trên bề mặt có đủ đơn hàng, thanh toán, hóa đơn, nhưng bản chất không có hàng hóa thực hoặc chỉ là giao dịch giả nhằm tạo doanh thu ảo, hợp thức hóa hóa đơn đầu ra, phục vụ chuỗi khấu trừ hoặc hồ sơ hoàn thuế.
Thứ hai là, lợi dụng mô hình bán hàng không qua kho. Đây là hình thức dễ bị biến tướng khi doanh nghiệp khai báo đầu vào từ các hộ kinh doanh cá thể, các điểm bán trên mạng xã hội, gom hóa đơn lẻ hoặc mua hóa đơn để kê khai thuế đầu vào, sau đó làm hồ sơ hoàn thuế dựa trên các “chi phí thu mua” không có thực. Khi chi phí thu mua không phản ánh giao dịch thực, hồ sơ hoàn thuế có thể bị “làm đẹp” bằng chứng từ nhưng thiếu nền tảng hàng hóa.
Thứ ba là, lợi dụng thanh toán trung gian và ví điện tử trên sàn TMĐT. Dòng tiền trong TMĐT vốn phân tán qua nhiều kênh như ví điện tử, tài khoản ngân hàng, đơn vị vận chuyển thu hộ hoặc trung gian thanh toán. Một số đối tượng có thể chuyển tiền qua nhiều tài khoản cá nhân, sau đó quay trở lại dưới danh nghĩa thanh toán đơn hàng, tạo cảm giác giao dịch đã hoàn tất qua hệ thống tài chính. Nếu chỉ nhìn từng chứng từ riêng lẻ, cơ quan quản lý khó nhận diện được vòng tiền khép kín.
Thứ tư là, xuất khẩu tại chỗ ảo qua kho ngoại quan TMĐT. Doanh nghiệp khai báo xuất khẩu hàng hóa cho đối tác nước ngoài, phục vụ bán trên các nền tảng TMĐT quốc tế. Tuy nhiên, nếu hàng hóa thực tế vẫn nằm trong nội địa, không đến tay người mua ở nước ngoài hoặc bị đưa ra thị trường trong nước không hóa đơn, hồ sơ xuất khẩu sẽ trở thành công cụ để xin hoàn thuế không đúng bản chất.
Thứ năm là, giả mạo chứng từ vận chuyển. Do đơn hàng TMĐT thường nhỏ lẻ, các đối tượng có thể gom nhiều đơn hàng ảo thành một lô hàng lớn, sau đó hợp thức hóa bằng chứng từ vận chuyển, vận đơn hoặc tài liệu giao nhận nhằm chứng minh hàng đã ra khỏi Việt Nam. Đây là thủ đoạn nguy hiểm vì đánh vào khâu xác thực vận động hàng hóa - một mắt xích quan trọng trong hồ sơ xuất khẩu.
Điểm chung của các thủ đoạn trên là đều tìm cách tạo ra “bề mặt hợp lệ” của giao dịch: có gian hàng, có đơn hàng, có hóa đơn, có dòng tiền, có chứng từ vận chuyển. Tuy nhiên, bản chất cần kiểm tra là giao dịch có thật hay không. Vì vậy, quản lý thuế trong TMĐT không thể chỉ dựa trên từng loại hồ sơ tách rời, mà phải đặt giao dịch trong một chuỗi dữ liệu đầy đủ.
![]() |
| Chống gian lận thuế trong lĩnh vực TMĐT không chỉ là xử lý một số hành vi vi phạm riêng lẻ, mà là yêu cầu xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng. |
Yêu cầu quản lý bằng dữ liệu liên thông
Theo quy định tại Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, đối với trường hợp xuất khẩu hàng hóa qua sàn TMĐT ở nước ngoài, cơ sở kinh doanh phải có tài liệu chứng minh việc đã xuất bán hàng hóa ở ngoài Việt Nam.
Hồ sơ bao gồm hợp đồng với nhà quản lý sàn để bán hàng hóa trên sàn TMĐT ở nước ngoài; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; trường hợp bên bán ủy quyền cho các nhà quản lý sàn thu hộ tiền từ người mua ở nước ngoài thì thanh toán ủy quyền phải được quy định trong hợp đồng với nhà quản lý sàn TMĐT.
Ngoài ra, hồ sơ còn yêu cầu có tờ khai đã hoàn thành thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan khi gửi hàng ra nước ngoài và tài liệu chứng minh giao hàng cho người mua ở nước ngoài; phiếu đóng gói, vận đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có).
Qua đó cho thấy, định hướng quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT đang chuyển từ “quản lý dựa trên hồ sơ” sang “quản lý dựa trên dữ liệu”, từ kiểm tra chứng từ đơn lẻ sang đối chiếu bản chất giao dịch. Cần thiết lập một hệ sinh thái dữ liệu kết nối liên ngành: Hóa đơn điện tử (cơ quan thuế) - Dòng tiền (ngân hàng) - Vận động hàng hóa (hải quan).
Khi ba lớp dữ liệu này được kết nối, các bất thường như doanh thu tăng đột biến, dòng tiền quay vòng, người bán không định danh rõ, hàng hóa không khớp với vận đơn hoặc tờ khai có thể được phát hiện sớm hơn.
Ở chiều ngược lại, quản lý bằng dữ liệu cũng giúp bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Những đơn vị có giao dịch thật, chứng từ thật, dòng tiền minh bạch và hàng hóa xuất khẩu đúng quy định sẽ được phân loại rủi ro rõ ràng hơn, giảm nguy cơ bị đánh đồng với các trường hợp lợi dụng chính sách.
Cơ quan Thuế khẳng định, việc kiểm soát dữ liệu giao dịch số không nhằm mục đích gây khó dễ cho doanh nghiệp, mà là để tạo ra một sân chơi bình đẳng.
Do đó, chống gian lận thuế trong lĩnh vực TMĐT không chỉ là xử lý một số hành vi vi phạm riêng lẻ, mà là yêu cầu xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng; khi dữ liệu hóa đơn, dòng tiền và vận động hàng hóa được kết nối, chính sách hoàn thuế mới thực sự phát huy vai trò hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu, đồng thời ngăn chặn hiệu quả các hành vi trục lợi ngân sách.