Thứ bảy 19/09/2026 16:22
Thời tiết: Hà Nội 33°C
Đà Nẵng 31°C
Cà Mau 29°C
Hải Phòng 32°C
TP Hồ Chí Minh 28°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách / Diễn đàn
aa

Gỡ “nút thắt” tài chính xanh cho phát triển năng lượng tái tạo

Theo ước tính của Bộ Công Thương, đến năm 2030 sẽ có thêm 16.000 MW điện gió trên mặt đất, 7.000 MW điện gió ngoài khơi; đến năm 2045 con số này sẽ tăng lên lần lượt là 56.000 MW và 64.000 MW. Đối với điện mặt trời phải có đến 87.000 MW vào năm 2045… Dự kiến, đến năm 2050 sẽ sử dụng hoàn toàn năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn còn là nước đang phát triển, nên việc huy động các nguồn vốn để thực hiện theo Quy hoạch điện 8 hiện vẫn là thách thức, bởi theo tính toán để thực hiện các kế hoạch này thì giai đoạn từ nay đến 2030 sẽ cần khoảng 12-15 tỷ USD/năm và đến 2050 lên tới 400 tỷ USD. Trong khi chủ đầu tư của các dự án năng lượng tái tạo có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng xanh từ các NHTM hoặc ngân hàng phát triển/quỹ phát triển.
go nut that tai chinh xanh cho phat trien nang luong tai tao

Thực trạng tài chính xanh cho phát triển năng lượng tái tạo

Để tháo “nút thắt” này, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thiện chiến lược phát triển tín dụng xanh; hướng dẫn hoạt động tín dụng cho các ngành/lĩnh vực xanh, quản lý rủi ro môi trường xã hội. Đồng thời, hướng dẫn hoạt động tín dụng cho các ngành/lĩnh vực xanh; ban hành Thông tư 17/2022/TT-NHNN hướng dẫn quản lý rủi ro môi trường xã hộ trong hoạt động cấp tín dụng. Theo số liệu từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, tính đến cuối năm 2022, đã có 39/129 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ xanh, đạt hơn 500.524 tỷ VNĐ chiếm tỷ trọng 4,2% dư nợ tín dụng của nền kinh tế, tăng 12,96% so với cuối năm 2021, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực năng lượng sạch, năng lượng tái tạo (chiếm tỷ trọng 46,7%) và nông nghiệp xanh (chiếm tỷ trọng hơn 31%). Dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt hơn 2.359 ngàn tỷ đồng, chiếm hơn 20% dư nợ cho vay của nền kinh tế, tăng 27,69% so với cuối năm 2021, với hơn 1,2 triệu món vay. Giai đoạn 2017-2022, dư nợ cấp tín dụng tăng bình quân đạt gần 23%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Trong giai đoạn 2020-2021, BIDV đã cho vay các dự án điện gió, điện mặt trời với quy mô vay vốn trên 500 tỷ đồng, ngoài ra đã tài trợ 25 dự án với tổng số tiền cho vay khoảng 23.400 tỷ đồng (tương đương 1 tỷ USD). Đến hết năm 2022, BIDV dẫn đầu thị trường về tài trợ xanh với hơn 1.386 khách hàng và dự án với tổng số vốn cam kết cấp tín dụng hơn 2,68 tỷ USD, trong đó tập trung chủ yếu vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, với hơn 800 dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, chiếm 4,3% tổng dư nợ tín dụng của BIDV và 13% tổng dư nợ cho vay lĩnh vực xanh toàn bộ nền kinh tế. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho ngành năng lượng, ngoài nguồn vốn kinh doanh thông thường, BIDV đã huy động thành công nhiều nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế như WB, AFD… Danh mục cho vay của BIDV cho các lĩnh vực xanh và bền vững đến năm 2025 dự kiến đạt 3 tỷ USD, chiếm khoảng 5% tổng dư nợ BIDV. Việc ban hành “Khung Khoản vay bền vững” của BIDV nhằm cung cấp các sản phẩm cho vay bền vững phổ biến nhất trên thị trường toàn cầu hiện nay bao gồm khoản vay theo chủ đề và khoản vay liên kết bền vững.

Tại Vietcombank, các dự án thuộc lĩnh vực năng lượng này có thể tiếp cận vốn vay lên đến 70% tổng mức đầu tư. Tuy nhiên, tiêu chí ngân hàng đặt ra cho dự án không đơn giản: phải hoàn thành đúng tiến độ, hòa lưới điện quốc gia. Yêu cầu về vốn đối ứng với từng dự án lại khác nhau nhưng mức phổ biến là tối thiểu 30% tổng mức đầu tư. Ngân hàng sẽ đánh giá năng lực của chủ đầu tư, phân tích mức độ rủi ro của dự án trước khi quyết định tỷ lệ vốn đối ứng. Bên cạnh đó, khi cho vay các dự án như vậy thì ngân hàng cũng đánh giá các yếu tố trên khá kỹ càng. Tháng 6/2019, Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) cùng Vietcombank đã ký kết hợp đồng tín dụng trị giá 200 triệu USD nhằm tài trợ cho các dự án năng lượng tái tạo. Kỳ hạn khoản vay lên tới 14 năm nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn để đầu tư cho các dự án năng lượng xanh tại Việt Nam. Vietcombank đang cho vay 3 dự án là Srêkop 1, Srêkop 2 và BP Solar. Srêkop 1 có tổng mức đầu tư khoảng 1.200 tỷ đồng tại Đăk Lăk. Srêkop 2 và BP Solar 1 là 2 dự án ở Phước Hữu, Ninh Thuận. Ngày 29/3/2023, giữa Vietcombank và JBIC đã tiếp tục ký kết Hợp đồng tài trợ vốn 300 triệu USD để hỗ trợ dự án năng lượng tái tạo. Khoản vay sẽ hỗ trợ cho các dự án năng lượng xanh và bảo vệ môi trường tại Việt Nam - một trong những lĩnh vực mà Chính phủ rất quan tâm hiện nay. Trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng, Vietcombank sẽ phối hợp cùng JBIC để tối ưu hóa những tác động tích cực về mặt xã hội và môi trường của khoản vay. Về dư nợ cho vay, năm 2022 Vietcombank đạt tổng dư nợ là 1.156.148 tỷ đồng, trong đó có 4% dư nợ tín dụng xanh, Vietcombank đã dảnh 87,3% dư nợ tín dụng xanh tài trợ cho các dự án năng lượng tái tạo.

Ngoài ra, tài trợ từ nguồn trái phiếu xanh có thể được phát hành trước bởi các tổ chức công hoặc tư nhân để huy động vốn cho các dự án hoặc cho mục đích tái cấp vốn cho các dự án xanh. Tuy nhiên, để tiếp cận các nguồn trái phiếu xanh, hoặc được tài trợ, tái cấp vốn cho các dự án có tác động tích cực tới môi trường, thì các dự án cần phải đáp ứng các tiêu chí liên quan đến mục tiêu, tiêu chuẩn xanh, báo cáo minh bạch và đánh giá độc lập. Theo báo cáo của Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam, năm 2020, trái phiếu riêng ngành năng lượng đạt 37.017 tỷ đồng, chiếm 8% tổng khối lượng trái phiếu phát hành, tăng 274% so với 2019. Nhưng đến năm 2021, con số này giảm xuống mức 28.453 tỷ đồng, tương ứng 4% tổng khối lượng trái phiếu phát hành. Năm 2022, lượng phát hành trái phiếu năng lượng chỉ còn đạt 2.900 tỷ đồng. Nguyên nhân là do những thay đổi về cơ sở pháp lý liên quan đến phát hành trái phiếu (Nghị định 65/2022 và Nghị định 08/2023), nên trái phiếu liên quan đến ngành năng lượng thời gian tới sẽ kém sôi động hơn so với giai đoạn trước.

Trong báo cáo “Nhìn lại 2022 & Triển vọng thị trường vốn 2023” của FiinRatings (đơn vị xếp hạng tín nhiệm nội địa) cũng cho thấy, đến tháng 5/2023, ước tính có gần 10,96% trái phiếu năng lượng chưa thanh toán hiện tại đã bị vỡ nợ, chủ yếu bao gồm các nhà phát triển năng lượng tái tạo quy mô lớn. Nguyên nhân là do kỳ hạn trái phiếu thường là 4-5 năm, trong khi thời gian hoàn vốn của dự án khoảng 10-15-20 năm, tùy thuộc dự án điện mặt trời hay điện gió. Điều này dẫn tới thực tế, các nhà đầu tư có thể phải đối mặt với áp lực từ việc trái phiếu sắp đáo hạn, bất chấp những nỗ lực tái cơ cấu nợ đang diễn ra. Cũng đã xuất hiện tình trạng việc hoàn trả trái phiếu bị trì hoãn và gia hạn thời hạn trái phiếu. Do đó việc phát hành trái phiếu xanh trong thời gian tới sẽ gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn huy động từ nguồn này sẽ không đủ để đáp ứng yêu cầu của việc phát triển ngành năng lượng tái tạo.

Một số đề xuất một số khuyến nghị

Ngày 15/5/2023, Chính phủ ban hành Quyết định 500/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện 8). Theo đó, để phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện, đạt tỷ lệ khoảng 30,9-39,2% vào năm 2030, hướng tới mục tiêu tỷ lệ năng lượng tái tạo 47% theo Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) với Việt Nam được các đối tác quốc tế thực hiện đầy đủ, thực chất. Phấn đấu đến năm 2030, quy mô công suất xuất khẩu điện đạt khoảng 5.000-10.000 MW... thì nhu cầu vốn cho phát triển nguồn điện trong giai đoạn 2021-2030 là 114 tỷ USD, trong đó điện gió chiếm 30% và điện khí chiếm 35%. Trong giai đoạn 2031-2050, nhu cầu vốn sẽ tăng lên 495 tỷ USD, trong đó điện gió chiếm khoảng 65%, theo sau là điện mặt trời (18%). Điều này cho thấy, áp lực về nguồn vốn cho các dự án năng lượng tái tạo theo quy hoạch điện 8 tạo ra yêu cầu về sự đa dạng hoá nguồn vốn trong lĩnh vực này.

Vì thế, để có thể thu hút được các nguồn tài chính xanh cho năng lượng tái tạo, thì ngoài việc ngành năng lượng tái tạo phải có các cơ sở vững chắc để tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững, Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích như: bảo hộ quyền tác giả cho các phát minh, cải tiến kỹ thuật về năng lượng tái tạo; ưu tiên cho các nghiên cứu về phát triển năng lượng tái tạo, đầu tư công nghệ cho lĩnh vực này. Đặc biệt, cần có cơ chế để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào phát triển nguồn năng lượng tái tạo như: có thêm nhiều ưu đãi và hỗ trợ cho DN, tăng cường mối liên kết giữa DN trong ngành và liên ngành; mở rộng đầu tư lưới điện có kiểm soát theo hình thức đối tác công tư (PPP) thông qua đấu thầu cạnh tranh, tạo điều kiện cho nhà đầu tư tư nhân và kết nối nhanh, giảm bớt thủ tục liên quan đế đầu tư và vận hành quá trình đầu tư; có các chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài như ODA, FDI cho lĩnh vực năng lượng tái tạo.

Với Ngân hàng Nhà nước, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý hướng dẫn thực hiện tín dụng xanh cho các TCTD, triển khai hoạt động ngân hàng xanh thông qua việc gia tăng nhận thức và trách nhiệm đối với môi trường và xã hội của ngành Ngân hàng trong kinh doanh; tăng cường năng lực các TCTD để phát triển sản phẩm huy động và cho vay vốn tín dụng vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, các ngành sản xuất và tiêu dùng ít cacbon để góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng. Có chính sách lãi suất ưu đãi, hoặc có thể cung ứng các khoản tín dụng lãi suất ưu đãi cho các NHTM để các ngân hàng này đáp ứng được nguồn vốn cho vay dự án năng lượng tái tạo.

Mai Phương

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm: Lấp khoảng trống hậu kiểm, ngăn thực phẩm giả

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm: Lấp khoảng trống hậu kiểm, ngăn thực phẩm giả

Sữa giả, thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng liên tiếp bị phát hiện đang cho thấy những lỗ hổng không chỉ ở khâu cấp phép mà còn trong quá trình giám sát sau lưu thông. ThS. Luật sư Bùi Văn Đức, Phó Giám đốc Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ thuộc Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh cho rằng, hậu kiểm chưa đủ mạnh, dữ liệu quản lý thiếu liên thông và trách nhiệm còn phân tán đang tạo khoảng trống, đất sống cho thực phẩm giả, kém chất lượng. Theo ông, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm cần chuyển mạnh sang kiểm soát xuyên suốt vòng đời sản phẩm, đồng thời làm rõ trách nhiệm và tăng năng lực quản lý trên môi trường số.
Miễn, giảm phí, lệ phí để người dân tiến sâu hơn vào đời sống số

Miễn, giảm phí, lệ phí để người dân tiến sâu hơn vào đời sống số

Từ ngày 15/8/2026 đến hết ngày 28/2/2027, công dân có tài khoản định danh điện tử mức độ 2 được miễn, giảm 10 khoản phí, lệ phí nếu đáp ứng đủ điều kiện. Chia sẻ với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, Luật sư Phạm Tuấn Anh (Đoàn luật sư TP. Hà Nội), Chuyên gia Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số cho rằng, không chỉ giúp người dân giảm chi phí khi thực hiện thủ tục, chính sách này còn mở thêm lợi ích cho doanh nghiệp nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh khi dữ liệu số ngày càng gắn chặt với giao dịch, quản lý và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Thêm dư địa giảm thủ tục, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất

Thêm dư địa giảm thủ tục, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất

Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 25/2026/NĐ-CP đang mở thêm dư địa để doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất giảm thủ tục, chi phí tuân thủ và đẩy mạnh số hóa quản lý. Tuy nhiên, theo TS. Đào Cao Sơn, Phó Trưởng bộ môn Quản trị thương hiệu và Sở hữu trí tuệ, Khoa Marketing, Trường Đại học Thương mại, thông quan chỉ là một khâu trong cả quá trình, doanh nghiệp cần chủ động hơn từ khai báo, lưu trữ, vận chuyển đến bảo quản và sử dụng hóa chất.
Ngăn chặn gian lận hóa đơn bằng AI: Đề xuất ứng dụng mô hình quản lý đa tầng

Ngăn chặn gian lận hóa đơn bằng AI: Đề xuất ứng dụng mô hình quản lý đa tầng

Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển vượt bậc, việc ứng dụng công nghệ đa tầng để quản lý thuế là xu hướng không thể đảo ngược của thế giới. Là quốc gia tiếp cận sau, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tận dụng ngay những công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Tháo "nút thắt" cho doanh nghiệp nhập khẩu hàng tân trang

Tháo "nút thắt" cho doanh nghiệp nhập khẩu hàng tân trang

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 77/2023/NĐ-CP và Nghị định số 66/2024/NĐ-CP về quản lý nhập khẩu hàng hóa tân trang theo Hiệp định CPTPP, EVFTA, UKFTA (gọi tắt dự thảo) đang mở hướng quản lý mới cho hàng hóa tân trang nhập khẩu. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành lợi thế, Luật sư Nguyễn Văn Chí (Công ty Luật TNHH Chân Thiện Mỹ, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh) cho rằng doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ năng lực kiểm soát hàng hóa và tuân thủ quy định.
Đề xuất nâng ngưỡng doanh thu kê khai lên 10 tỷ đồng: Phù hợp với quy mô và năng lực thực tế của hộ kinh doanh

Đề xuất nâng ngưỡng doanh thu kê khai lên 10 tỷ đồng: Phù hợp với quy mô và năng lực thực tế của hộ kinh doanh

Việc Bộ Tài chính nghiên cứu nâng mức doanh thu để hộ, cá nhân kinh doanh được lựa chọn áp dụng phương pháp thuế đơn giản từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng/năm được kỳ vọng tạo thêm vùng chuyển tiếp khi hộ kinh doanh mở rộng quy mô. Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, điều quan trọng là hạn chế những “bước nhảy” quá lớn về nghĩa vụ và chi phí tuân thủ.
Số hóa thủ tục thuế: Giảm chi phí tuân thủ, gia tăng cạnh tranh cho hàng Việt

Số hóa thủ tục thuế: Giảm chi phí tuân thủ, gia tăng cạnh tranh cho hàng Việt

Số hóa thủ tục thuế đang từng bước thay đổi cách doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, theo hướng nhanh hơn, minh bạch hơn và giảm chi phí tuân thủ. Với doanh nghiệp xuất khẩu, mỗi khâu được đơn giản hóa, mỗi giờ chờ được rút ngắn không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn tạo thêm dư địa để đầu tư, mở rộng thị trường và nâng sức cạnh tranh cho hàng Việt. ThS. Nguyễn Ngọc Minh An, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Mở Hà Nội cho rằng, cải cách thủ tục thuế không chỉ là câu chuyện hành chính, mà phải trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nâng ngưỡng doanh thu tính thuế lên 10 tỷ đồng: Bước đi chiến lược tháo gỡ rào cản cho hộ kinh doanh

Nâng ngưỡng doanh thu tính thuế lên 10 tỷ đồng: Bước đi chiến lược tháo gỡ rào cản cho hộ kinh doanh

Chính phủ đang nghiên cứu nâng ngưỡng doanh thu tính thuế từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng/năm. Các chuyên gia về thuế cho rằng, khi chính sách này được thông qua sẽ tạo “khoảng đệm” cần thiết, giúp các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ giảm chi phí tuân thủ, mở rộng quy mô, hướng tới sự minh bạch và chuyên nghiệp.
Hướng dẫn xử lý hóa đơn điện tử có sai sót theo các quy định mới

Hướng dẫn xử lý hóa đơn điện tử có sai sót theo các quy định mới

Hóa đơn điện tử hiện nay đã trở thành một phần quen thuộc trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vẫn có thể phát sinh sai sót tên, địa chỉ, mã số thuế, sai đơn giá, thuế suất, tiền thuế... Vậy khi phát hiện hóa đơn sai sót thì phải xử lý thế nào?
Hoàn thuế giá trị gia tăng: Dữ liệu mở đường, doanh nghiệp hưởng lợi

Hoàn thuế giá trị gia tăng: Dữ liệu mở đường, doanh nghiệp hưởng lợi

Rút ngắn thời gian hoàn thuế nhưng vẫn kiểm soát chặt gian lận đang là trọng tâm hướng đến của ngành Thuế. Việc đẩy mạnh dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa giúp chuyển từ kiểm soát dàn trải sang quản lý theo rủi ro, qua đó hoàn nhanh hơn cho doanh nghiệp đủ điều kiện và khơi thông dòng tiền. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã trao đổi với chuyên gia, TS Giang Thị Trang, Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh.
Đề xuất giảm 30% thuế: Chính sách hỗ trợ đang sát với thực tế vận hành của thị trường

Đề xuất giảm 30% thuế: Chính sách hỗ trợ đang sát với thực tế vận hành của thị trường

Trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ và cá nhân kinh doanh chịu nhiều sức ép từ chi phí, vốn và thị trường, đề xuất giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm 2026-2027 của Chính phủ được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực cho khu vực kinh doanh quy mô nhỏ. Theo bà Phạm Thị Xuân, Viện trưởng Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số, giá trị của chính sách này không chỉ nằm ở số thuế được giảm, mà còn ở khả năng giải phóng dòng tiền để doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh duy trì sản xuất, đầu tư, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh.
Chủ động kiểm soát hóa đơn, hạn chế rủi ro trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Chủ động kiểm soát hóa đơn, hạn chế rủi ro trong thực hiện nghĩa vụ thuế

Theo chuyên gia Bùi Như Hiển, Phó trưởng Bộ môn Kinh doanh (Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh), người nộp thuế cần chủ động cập nhật chính sách, kiểm soát chặt chẽ từng khâu, bảo đảm hóa đơn được lập, sử dụng đúng quy định ngay từ đầu.
Giảm trừ y tế, giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân: Căn cứ vào chi phí thực tế

Giảm trừ y tế, giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân: Căn cứ vào chi phí thực tế

Chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) mới bổ sung khoản giảm trừ đối với chi phí y tế, giáo dục - đào tạo tối đa 47 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, chuyên gia thuế Nguyễn Văn Phụng lưu ý, khoản giảm trừ thực tế được xác định trên cơ sở số tiền người nộp thuế thực tế chi trả và đáp ứng các điều kiện về chứng từ, nguồn thanh toán.
Chính sách tài khóa tiếp sức doanh nghiệp, tạo động lực cho tăng trưởng

Chính sách tài khóa tiếp sức doanh nghiệp, tạo động lực cho tăng trưởng

Theo TS. Phan Hoài Nam, Tổng giám đốc Hãng tư vấn W&A, Trọng tài viên VIAC, trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, chính sách tài khóa không chỉ đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách mà còn cần tạo thuận lợi cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và giải phóng dòng tiền là những yếu tố có thể tạo tác động trực tiếp tới quyết định của doanh nghiệp.
Bao bì không đạt chuẩn, hàng Việt Nam khó vào EU

Bao bì không đạt chuẩn, hàng Việt Nam khó vào EU

Quy định mới của Liên minh châu Âu (EU) về bao bì và rác thải bao bì có hiệu lực từ ngày 12/8/2026, đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tái chế, tái sử dụng, vật liệu tái chế và kiểm soát hóa chất. Chuyên gia Nguyễn Ngọc Linh, Giám đốc Thương hiệu Easy Export, Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số cảnh báo, doanh nghiệp xuất khẩu không nên xem nhẹ, chỉ coi bao bì là phần phụ của sản phẩm, bởi đây là mắt xích quyết định khả năng tiếp cận thị trường EU.