![]() |
| Phó Cục trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Cục Thuế. |
Triệt phá nhiều vụ buôn bán hóa đơn số lượng lớn
Báo cáo tại hội nghị, đại diện Cục Thuế cho biết việc triển khai hệ thống hóa đơn điện tử (HĐĐT) theo lộ trình từ năm 2021 và trên phạm vi toàn quốc từ năm 2022 đã tạo nền tảng quan trọng cho đổi mới phương thức quản lý thuế. Cùng với dữ liệu đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và tình trạng hoạt động của người nộp thuế, dữ liệu HĐĐT là nguồn thông tin cốt lõi để cơ quan thuế phân tích giao dịch, đối chiếu thông tin và nhận diện rủi ro.
Cùng với đó, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý thuế trên nền tảng số, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và phối hợp liên ngành. Đây là điều kiện tiên quyết để tăng cường đối chiếu chéo thông tin và nâng cao chất lượng quản lý.
Tuy nhiên, theo đại diện Ban Pháp chế (Cục Thuế), sự phát triển của chuyển đổi số luôn song hành với các thách thức an ninh phi truyền thống. Sự bùng nổ của thương mại điện tử, kinh tế nền tảng và các giao dịch thanh toán trực tuyến xuyên biên giới đã mở ra không gian cho các phương thức gian lận hóa đơn thế hệ mới.
Cụ thể, lợi dụng việc xử lý dữ liệu tự động, tốc độ luân chuyển thông tin nhanh chóng và tính phân tán về địa lý, các mạng lưới tội phạm kinh tế có tổ chức đã hình thành với cấu trúc ngày càng tinh vi. Các đối tượng đã thành lập doanh nghiệp vỏ bọc nhằm mua bán HĐĐT khống với quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng; thiết lập các chuỗi giao dịch lòng vòng để hợp thức hóa hàng hóa trôi nổi; khai khống chi phí đầu vào nhằm trốn thuế và cấu kết trục lợi tiền hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) từ ngân sách nhà nước.
Theo Ban Kiểm tra (Cục Thuế), tội phạm hóa đơn hiện nay không còn hoạt động đơn lẻ mà hình thành các mạng lưới doanh nghiệp liên kết chặt chẽ về con người, địa chỉ, tài khoản, dòng tiền và hàng hóa trung gian.
| Phó Cục trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh nhấn mạnh: Công tác phòng, chống gian lận hóa đơn không chỉ đơn thuần là bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước mà quan trọng hơn là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, bảo đảm sự công bằng và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch. Do đó, toàn ngành phải kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, hỗ trợ tuân thủ với phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. |
Thời gian qua, ngành Thuế đã phối hợp với các cơ quan chức năng triệt phá nhiều đường dây doanh nghiệp “ma” buôn bán hóa đơn quy mô lớn.
Điển hình: Năm 2025 đã triệt phá Vụ án Nguyễn Minh Tuấn và Lê Long Hậu thành lập 237 doanh nghiệp “ma”, mua bán trên 12.000 hóa đơn với số tiền thuế vi phạm hơn 175 tỷ đồng.
Năm 2026: Phá 2 vụ án lớn, gồm vụ Đào Minh Thọ thành lập 108 doanh nghiệp “ma”, mua bán 56.030 hóa đơn với tổng giá trị trước thuế gần 6.000 tỷ đồng; vụ Phạm Ngọc Tuấn thành lập 14 doanh nghiệp “ma”, bán 1.447 hóa đơn, thu lợi bất chính hơn 2,4 tỷ đồng.
Từ thực tiễn này đòi hỏi ngành Thuế phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “kiểm tra doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro” sang “kiểm tra theo chuỗi, theo nhóm liên kết và theo dòng vận động của hóa đơn, tiền và hàng hóa”.
Tại hội nghị, các đại biểu đã trao đổi về thực tiễn quản lý, nhận diện khó khăn và chia sẻ kinh nghiệm xử lý từ các địa phương. Chương trình dành nhiều thời lượng thảo luận sâu về các vụ án mua bán hóa đơn trái phép điển hình đã được cơ quan Công an khởi tố, từ đó đúc rút các giải pháp hiệu quả để áp dụng, nhân rộng toàn ngành.
![]() |
| Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Cục Thuế |
Năm nhóm giải pháp trọng tâm cần triển khai
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt là “tăng cường phòng ngừa ngay trong quá trình quản lý; kết hợp quản lý từng người nộp thuế với phân tích chuỗi giao dịch; sử dụng kết quả xử lý từng vụ việc để nâng cao năng lực quản lý chung”, Phó Cục trưởng Đặng Ngọc Minh đề nghị ngành Thuế tập trung thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm:
Thứ nhất: Nâng cao tính chủ động trong phòng ngừa: Phát hiện sớm và xử lý rủi ro về hóa đơn. Các đơn vị chủ động khai thác dữ liệu quản lý, theo dõi diễn biến hoạt động của người nộp thuế để kịp thời nhận diện dấu hiệu bất thường, phân công xử lý và theo dõi đến khi có kết quả. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn để doanh nghiệp, hộ kinh doanh thực hiện đúng ngay từ đầu.
Thứ hai: Khai thác hiệu quả dữ liệu: Thay vì xem xét rời rạc từng hóa đơn hay doanh nghiệp, cần kết hợp dữ liệu HĐĐT với thông tin kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và các nguồn dữ liệu thu thập hợp pháp khác để đối chiếu, đánh giá rủi ro. Đối với các giao dịch có dấu hiệu liên kết, phân tích phải mở rộng theo chuỗi và mạng lưới. Quá trình xử lý phải đảm bảo liên thông từ phát hiện, phân tích, xác minh đến kiểm tra, xử lý và cập nhật kết quả vào hệ thống.
Thứ ba: Tăng cường phối hợp liên ngành và giữa các địa phương: Đối với các vụ việc liên quan nhiều địa bàn, cần xác định rõ đầu mối chủ trì, trách nhiệm phối hợp và cơ chế chia sẻ thông tin kịp thời, thống nhất. Cơ quan Thuế chủ động phối hợp với cơ quan Công an, cơ quan đăng ký kinh doanh, Hải quan, ngân hàng và các tổ chức tín dụng để xác minh, xử lý triệt để vi phạm.
Thứ tư: xử lý nghiêm vi phạm, bảo vệ người nộp thuế tuân thủ: Kiên quyết xử lý theo quy định các hành vi gian lận, mua bán hóa đơn có tổ chức; xác định đúng tính chất, mức độ vi phạm và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân. Nếu có dấu hiệu tội phạm, phải kịp thời chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra. Phó Cục trưởng cũng lưu ý: “Cảnh báo rủi ro là căn cứ để phân tích, xác minh, không phải là kết luận vi phạm.”
Thứ năm: Chủ động kiến nghị hoàn thiện chính sách, quy trình: Phân định rõ bất cập xuất phát từ quy định pháp luật, quy trình nghiệp vụ hay khâu tổ chức thực hiện. Nội dung thuộc thẩm quyền cần chủ động xử lý ngay; nội dung vượt thẩm quyền phải tổng hợp, báo cáo cấp trên. Việc hoàn thiện chính sách phải vừa đáp ứng yêu cầu phòng, chống gian lận, vừa đơn giản hóa thủ tục, không tạo thêm gánh nặng cho người nộp thuế.
Hiệu quả của công tác phòng, chống gian lận hóa đơn sẽ được đo lường qua khả năng phát hiện sớm, chất lượng xử lý cảnh báo, mức độ hạn chế tái diễn vi phạm và sự cải thiện ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế.