![]() |
| Điện thoại và linh kiện điện tử là một trong những mặt hàng xuất khẩu chính sang thị trường Mông Cổ. Ảnh: Tư liệu. |
Nền tảng thuận lợi, dư địa còn lớn
| Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Mông Cổ Sandag Byambatsogt và Phu nhân, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Mông Cổ từ ngày 9 đến 11/9/2026. Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tới Mông Cổ, diễn ra sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện năm 2024. Chuyến thăm khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống, phát huy vai trò ngoại giao nghị viện trong củng cố tin cậy chính trị và thúc đẩy hợp tác thực chất. Đây cũng là dịp để hai bên cụ thể hóa các cam kết, thỏa thuận cấp cao thành chương trình, dự án và lợi ích thiết thực, tạo xung lực mới đưa quan hệ Đối tác toàn diện phát triển hiệu quả, bền vững. |
Sau hơn 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (ngày 17/11/1954), Việt Nam và Mông Cổ đang đứng trước thời điểm thuận lợi để đưa hợp tác kinh tế - thương mại tiến thêm một bước phát triển mới. Đăc biệt sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện vào năm 2024 . Đây là dấu mốc mở ra khuôn khổ mới để các thỏa thuận cấp cao được chuyển hóa thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực.
Trong tổng thể quan hệ ấy, thương mại được đánh giá có nhiều khởi sắc nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt hơn 155 triệu USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 100 triệu USD.
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, bao gồm: điện thoại, linh kiện điện tử, thiết bị điện gia dụng, chế phẩm giặt, mỹ phẩm, thực phẩm chế biến, gạo trắng, ngũ cốc, bánh kẹo, bia, cà phê, dược phẩm, hoa quả đóng hộp, trứng và thịt gà. Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ Mông Cổ một số nông sản, nguyên phụ liệu dệt may và da giày.
Quan hệ thương mại đã có nền tảng pháp lý được củng cố qua nhiều năm. Hiệp định thương mại đầu tiên giữa hai nước được ký năm 1958. Bộ Công Thương Việt Nam đã ký, tái ký những bản ghi nhớ về hợp tác kinh tế, thương mại; đặc biệt, Bản ghi nhớ về thương mại gạo bền vững ký ngày 1/11/2023 tạo cơ chế phối hợp nhằm bảo đảm nguồn cung lương thực và ổn định thị trường gạo.
Cùng với thương mại hàng hóa, đầu tư đang mở ra hướng hợp tác đáng chú ý. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã và đang triển khai dự án quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng tại Mông Cổ. Điều này cho thấy quan hệ kinh tế không chỉ dừng ở trao đổi hàng hóa mà đang từng bước mở sang những lĩnh vực tạo giá trị lớn.
Lợi thế nằm ở tính bổ trợ của hai nền kinh tế. Mông Cổ có thế mạnh về chăn nuôi, khoáng sản, than đá, len, dạ; Việt Nam có lợi thế về nông sản, thủy sản, dược phẩm, chế biến thực phẩm và kinh nghiệm phát triển chuỗi giá trị. Hai bên ít có sự cạnh tranh trực tiếp, nếu khai thác tốt lợi thế, thương mại song phương có thể tăng trưởng thực chất hơn.
Từ nền tảng đó, điều đáng quan tâm là không chỉ mở rộng lượng hàng hóa trao đổi, mà còn nâng chất lượng quan hệ thương mại. Các thỏa thuận về gạo, cơ chế Ủy ban liên Chính phủ và hoạt động xúc tiến cần gắn với nhu cầu doanh nghiệp, để khuôn khổ hợp tác tạo ra thị trường, đơn hàng và năng lực cung ứng trong thực tiễn kinh doanh, lâu dài và có sức lan tỏa hơn.
Hợp tác về AI, kinh tế số, khởi nghiệp và công nghệ mới mở rộng. Mông Cổ quan tâm kinh nghiệm Việt Nam trong phát triển AI, xây dựng chính phủ điện tử và số hóa dịch vụ công. Đây là lĩnh vực mới, tạo động lực cho quan hệ kinh tế nếu được kết nối bằng dự án.
Khơi thông điểm nghẽn, tạo xung lực mới
Từ nền tảng hợp tác và lợi thế bổ trợ đó, yêu cầu đặt ra là biến tiềm năng thành kết quả thương mại cụ thể, qua đó mở rộng thị trường và tạo động lực cho doanh nghiệp hai nước. Mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 200 triệu USD vì vậy không chỉ là con số tăng trưởng, mà còn phản ánh khả năng khai thác nhu cầu, thế mạnh của mỗi bên.
Theo Bộ Công Thương, hai nước cần tiếp tục xác định nhóm sản phẩm thế mạnh, có tiềm năng để mở rộng trao đổi; tăng cường các đoàn mua hàng, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và tổ chức các chương trình kết nối giao thương. Đây là giải pháp giúp doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, nắm bắt nhu cầu và mở rộng quy mô giao dịch.
Để thương mại phát triển bền vững, mở cửa thị trường cần đi cùng tháo gỡ những điểm nghẽn về hồ sơ pháp lý, thủ tục và rào cản kỹ thuật. Cùng với rà soát, đơn giản hóa quy trình xuất nhập khẩu, hai bên cần nghiên cứu giải pháp đối với logistics, thanh toán, tiêu chuẩn chất lượng và thông tin thị trường. Khi trở ngại được xử lý, lợi thế bổ sung giữa hai nền kinh tế sẽ phát huy rõ.
Về đầu tư, dư địa hợp tác còn lớn. Doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu cơ hội tại Mông Cổ trong khai khoáng, chế biến thức ăn chăn nuôi, sản xuất và chế biến thịt, sữa, da; các dự án không chỉ phục vụ thị trường sở tại mà còn có thể hướng tới thị trường lân cận. Doanh nghiệp Việt Nam đã triển khai dự án quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng, mở ra hướng hợp tác mới.
Nông nghiệp là lĩnh vực đầy triển vọng. Mông Cổ có lợi thế về chăn nuôi gia súc, còn Việt Nam có kinh nghiệm về giống, thú y, chế biến, bảo quản và xây dựng chuỗi giá trị. Hai bên có thể hợp tác từ giống, thức ăn, thú y đến chế biến sâu thịt, sữa, da; đồng thời mở rộng sang nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, chống sa mạc hóa, sử dụng hiệu quả nguồn nước và ứng dụng khoa học - công nghệ.
Trong khuôn khổ Đối tác toàn diện, dư địa hợp tác Việt Nam - Mông Cổ mở rộng từ thương mại, đầu tư đến nông nghiệp và công nghệ. Điều quan trọng là biến lợi thế bổ trợ thành kết quả cụ thể, tháo gỡ điểm nghẽn về thị trường, logistics và thủ tục, qua đó tạo động lực cho doanh nghiệp. Khi kết nối tăng cường, cam kết hợp tác sẽ đi vào thực chất, đưa quan hệ kinh tế hai nước phát triển hiệu quả và bền vững.