![]() |
| Công chức hải quan kiểm tra mặt hàng tiền chất công nghiệp. Ảnh: T.Hòa |
Chưa rõ hàng hóa nào phải xin giấy phép
Qua kiểm tra sau thông quan đối với 5 doanh nghiệp gia công, sản xuất xuất khẩu, Bộ Tài chính phát hiện vướng mắc trong việc xác định chính sách quản lý đối với hàng hóa có chứa tiền chất công nghiệp (TCCN), từ yêu cầu cấp phép xuất nhập khẩu đến khai báo hóa chất trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.
Theo đó, các mặt hàng được kiểm tra chủ yếu là những sản phẩm có chứa TCCN nhưng được doanh nghiệp nhập khẩu để sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm khác không phải là hóa chất. Trong đó có keo dán dùng ngay cho công đoạn dán giày, dán đế, dán vải, dán các lớp vải giả da; hương liệu tẩm sợi thuốc lá; chất xử lý bề mặt, chế phẩm tẩy rửa dùng để làm sạch nguyên liệu, chi tiết giày, máy móc, thiết bị; chế phẩm chống thấm nước dùng trong công đoạn hồ sợi, tráng nhựa, hoàn thiện vải, nhuộm sợi, vải...
Theo Bộ Tài chính, vướng mắc lớn nhất là chưa có cơ sở rõ ràng để phân biệt “hỗn hợp chất chứa TCCN” với “sản phẩm/hàng hóa chứa TCCN”. Việc này dẫn đến khó xác định chính xác trường hợp nào phải xin giấy phép nhập xuất khẩu TCCN và trường hợp nào không thuộc diện quản lý.
Vướng mắc càng phức tạp khi các quy định và văn bản hướng dẫn hiện hành có nội dung chưa thống nhất. Cụ thể, tại Công văn số 5133/BCT-HC ngày 10/7/2025 của Bộ Công Thương hướng dẫn sản phẩm, hàng hóa có chứa TCCN không thuộc đối tượng quản lý của Bộ Công Thương. Tuy nhiên, một số quy định tại Nghị định số 113/2017/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn trước đó lại quy định về sản phẩm, hàng hóa chứa TCCN theo phạm vi khác nhau.
Đáng chú ý, tại Hội nghị chuyên đề nghiệp vụ kiểm soát ma túy và tiền chất tổ chức ngày 10/10/2025 tại Hải Phòng, báo cáo viên của Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) hướng dẫn rằng hàng hóa nhập khẩu là thành phẩm cuối cùng được đưa vào sử dụng trực tiếp ngay sau khi nhập khẩu thì không phải xin giấy phép nhập khẩu. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu có chứa TCCN chưa phải là thành phẩm cuối cùng, chưa được đưa vào sử dụng trực tiếp ngay sau khi nhập khẩu, thì bắt buộc phải xin giấy phép nhập khẩu theo quy định...
Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho biết đến nay chưa có văn bản chính thức hướng dẫn về nội dung này.
Từ đó đặt ra hàng loạt vấn đề cần được làm rõ: Hàng hóa chứa TCCN được nhập khẩu và sử dụng ngay trong sản xuất như dán giày, tẩy rửa, hồ sợi… có phải xin giấy phép hay không; hàng hóa chứa TCCN chưa phải thành phẩm cuối cùng, được nhập khẩu để phối trộn, sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu có phải xin giấy phép; sản phẩm chứa TCCN xuất khẩu nhưng không xác định được mục đích sử dụng sau khi xuất khẩu có phải xin giấy phép xuất khẩu hay không?
Bộ Tài chính cũng đặt vấn đề đối với các doanh nghiệp đã nhập xuất khẩu sản phẩm chứa TCCN trước thời điểm Bộ Công Thương ban hành công văn số 5133/BCT-HC ngày 10/7/2025 thì có thuộc trường hợp không phải xin giấy phép của Cục Hóa chất hay không?
Theo Bộ Tài chính, Luật Hóa chất ngày 21/11/2007 quy định hóa chất là đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất được con người khai thác hoặc tạo ra từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, nguyên liệu nhân tạo. Hỗn hợp chất là tập hợp của hai hoặc nhiều chất mà giữa chúng không xảy ra phản ứng hóa học trong điều kiện bình thường.
Luật Hóa chất ngày 21/11/2007 cũng xác định hoạt động hóa chất bao gồm các hoạt động như sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, cất giữ, bảo quản, sử dụng và các hoạt động khác liên quan đến hóa chất.
Nghị định số 113/2017/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 82/2022/NĐ-CP, quy định một số sản phẩm không thuộc đối tượng hóa chất được điều chỉnh, trong đó có keo dán sử dụng trong lĩnh vực gia dụng và sản phẩm tẩy rửa sử dụng trong lĩnh vực gia dụng.
Nghị định số 113/2017/NĐ-CP đồng thời quy định trường hợp được miễn giấy phép xuất nhập khẩu đối với hỗn hợp chất chứa tiền chất công nghiệp Nhóm 1 có hàm lượng nhỏ hơn 1% khối lượng và hỗn hợp chất chứa tiền chất công nghiệp Nhóm 2 có hàm lượng nhỏ hơn 5% khối lượng.
Bộ Tài chính cho rằng điểm khó hiện nay là các quy định nêu trên chưa làm rõ ranh giới giữa hỗn hợp chất chứa TCCN và sản phẩm, hàng hóa chứa TCCN.
![]() |
| Tiềnchất công nghiệp nhập khẩu. Ảnh minh họa theo nguồn tư liệu |
Trong quá trình tham gia xây dựng nghị định thay thế Nghị định số 113/2017/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã nhiều lần phản ánh vấn đề này. Cụ thể, tại công văn số 15206/BTC-CHQ ngày 1/10/2025, Bộ Tài chính đề nghị bổ sung quy định phân biệt giữa hỗn hợp chất và sản phẩm, hàng hóa có chứa hóa chất nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong thực thi pháp luật.
Tại Phiếu lấy ý kiến Thành viên Chính phủ số 993/PLYK/2025, Bộ Tài chính tiếp tục đề nghị làm rõ việc miễn trừ giấy phép được áp dụng đối với bản thân hóa chất hay cả sản phẩm, hàng hóa chứa hóa chất. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, những vướng mắc này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Bên cạnh đó, Cục Hải quan đã nhiều lần trao đổi với Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) qua các công văn ban hành từ tháng 11/2025 đến tháng 4/2026 nhưng đến nay vẫn chưa nhận được văn bản hướng dẫn xử lý cụ thể đối với các vướng mắc nêu trên.
Theo Bộ Tài chính, nếu xác định các sản phẩm, hàng hóa của 5 doanh nghiệp thuộc trường hợp phải xin giấy phép và/hoặc khai báo hóa chất thì số tiền xử phạt có thể lên đến hơn 600 tỷ đồng. Vì vậy, việc xác định chính xác chính sách quản lý có ý nghĩa trực tiếp đối với kết quả kiểm tra sau thông quan.
Do đó, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Công Thương làm rõ cơ sở pháp lý để phân biệt giữa hỗn hợp chất chứa TCCN và sản phẩm, hàng hóa chứa TCCN, qua đó xác định rõ trách nhiệm xin giấy phép nhập xuất khẩu và trách nhiệm quản lý của cơ quan Hải quan.
Đồng thời, Bộ Tài chính đề nghị làm rõ chính sách áp dụng đối với các trường hợp hàng hóa chứa TCCN được nhập khẩu để sử dụng trực tiếp trong sản xuất; hàng hóa chưa phải thành phẩm cuối cùng được nhập khẩu để phối trộn, sản xuất sản phẩm khác; sản phẩm chứa TCCN xuất khẩu không xác định được mục đích sử dụng cuối cùng; cũng như các trường hợp phát sinh trước thời điểm Bộ Công Thương có văn bản hướng dẫn ngày 10/7/2025.
Bộ Tài chính cho rằng việc có hướng dẫn thống nhất sẽ giúp xử lý dứt điểm các cách hiểu khác nhau, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, hạn chế phát sinh khiếu nại, khiếu kiện từ kết quả kiểm tra sau thông quan, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong thực thi pháp luật.