Thứ hai 09/11/2026 01:03
Thời tiết: Hà Nội 24°C
Đà Nẵng 26°C
Cà Mau 25°C
Hải Phòng 26°C
TP Hồ Chí Minh 26°C
e-ISSN 3093-3501
Chính sách
aa

Vì sao urea, SOP được đề xuất giảm thuế, supe lân vẫn giữ 5%?

Giang Giang
Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế xuất khẩu urea và SOP từ 5% xuống 0%, trong khi giữ nguyên mức 5% với supe lân do khác biệt về nguồn nguyên liệu và mức độ sử dụng tài nguyên trong nước.
Thuế xuất khẩu phân bón: Vì sao urea, SOP được đề xuất giảm, supe lân vẫn giữ 5%?
Bộ Tài chính đề nghị điều chỉnh thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng phân bón. Ảnh: DNSE.com.vn

Không thể giảm thuế đồng loạt với các loại phân bón

Bộ Tài chính dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2023/NĐ-CP về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan.

Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng phân bón, trong đó urea và kali sulphat (SOP) được đề xuất giảm từ 5% xuống 0%, còn supe lân tiếp tục giữ mức 5%.

Tại dự thảo tờ trình, cơ quan soạn thảo cho biết, Hiệp hội Phân bón Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) đã có kiến nghị giảm thuế suất thuế xuất khẩu đối với phân urea, supe lân và kali sulphat (SOP) từ 5% xuống 0%.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các nhà máy trong nước hiện đã sản xuất được hầu hết các loại phân bón chủ lực như urea, phân lân, NPK và cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước. Riêng phân kali, trong đó có SOP, phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu.

Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu gần 1,73 triệu tấn phân bón các loại, đạt trên 709,91 triệu USD. Khối lượng xuất khẩu tăng 11,7%, kim ngạch tăng 9,4% nhưng giá xuất khẩu bình quân giảm khoảng 2% so với năm 2023. Campuchia là thị trường xuất khẩu chủ yếu, chiếm 34,3% tổng khối lượng và 33,9% tổng kim ngạch xuất khẩu phân bón của Việt Nam.

Tuy nhiên, xét riêng từng loại phân bón, điều kiện sản xuất và mức độ sử dụng nguồn lực trong nước có sự khác biệt đáng kể.

Đối với urea, cả nước hiện có 4 nhà máy với tổng công suất khoảng 2,73 triệu tấn/năm. Giai đoạn 2021-2024, sản lượng sản xuất bình quân đạt khoảng 2,54 triệu tấn/năm, trong khi tiêu thụ nội địa khoảng 2,148 triệu tấn/năm và xuất khẩu khoảng 661.000 tấn/năm, trong đó có cả urea có nguồn gốc nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu urea đạt khoảng 278 triệu USD năm 2024 và khoảng 329 triệu USD năm 2025.

Urea được sản xuất từ amoniac và CO2 – những sản phẩm được chế biến từ khí tự nhiên hoặc than đá. Đáng chú ý, một số nhà máy đã đầu tư công nghệ để thu hồi, tận dụng khí tự nhiên, khí đồng hành phát sinh trong quá trình khai thác dầu khí, qua đó hạn chế việc đốt bỏ hoặc để khí thất thoát.

Với SOP, Việt Nam hiện chỉ có một nhà máy sản xuất, công suất khoảng 20.000 tấn/năm. Loại phân này được sản xuất từ kali clorua nhập khẩu và không sử dụng tài nguyên khoáng sản trong nước.

Giai đoạn 2022-2024, sản lượng sản xuất bình quân khoảng 20.000 tấn/năm, xuất khẩu 10.000 tấn, nhập khẩu 13.000 tấn và tiêu thụ nội địa khoảng 23.000 tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu SOP năm 2025 khoảng 8,7 triệu USD.

Trong khi đó, supe lân có đặc điểm hoàn toàn khác. Cả nước có 7 nhà máy sản xuất phân lân với tổng công suất khoảng 2 triệu tấn/năm, trong đó công suất supe lân khoảng 1,25 triệu tấn/năm.

Giai đoạn 2021-2024, tổng sản lượng phân lân đạt bình quân 1,15 triệu tấn/năm, supe lân chiếm khoảng 67%; tiêu thụ nội địa khoảng 1,009 triệu tấn và xuất khẩu khoảng 161.000 tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu supe lân đạt khoảng 13,2 triệu USD năm 2024 và 18 triệu USD năm 2025.

Điểm khác biệt quan trọng là supe lân được sản xuất hoàn toàn từ quặng phosphat khai thác trong tự nhiên, chủ yếu là quặng apatit hoặc phosphorit. Đây là nguồn tài nguyên khoáng sản không tái tạo.

Chính sự khác biệt này khiến bài toán thuế không đơn thuần là giảm chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn liên quan đến cách thức phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên trong nước.

Theo quy định hiện hành, cả ba nhóm mặt hàng đều thuộc khung thuế suất thuế xuất khẩu từ 0%-40% theo Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu; mức thuế suất cụ thể tại Nghị định số 26/2023/NĐ-CP hiện là 5%.

Trước những diễn biến bất thường của xung đột Trung Đông và nguy cơ giá phân bón thế giới tăng, hồi tháng 5/2026, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ trước mắt chưa điều chỉnh thuế suất xuất khẩu đối với phân bón (urea, SOP và supe lân).

Đến nay, khi tình hình xung đột đã có phần cải thiện, giá phân bón trong nước và thế giới dần ổn định, Bộ Tài chính tiếp tục xem xét phương án điều chỉnh. Nhưng thay vì giảm đồng loạt cả 3 mặt hàng, cơ quan này phân loại theo đặc điểm sản xuất và nguồn nguyên liệu.

Urea và SOP về 0%, supe lân tiếp tục 5%

Đối với SOP, Bộ Tài chính tiếp thu ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đề xuất giảm thuế xuất khẩu từ 5% xuống 0%.

Lý do là SOP được sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu, không sử dụng tài nguyên khoáng sản trong nước; quy mô sản xuất và xuất khẩu không lớn, trong khi nhu cầu sử dụng trong nước đối với loại phân bón này cũng không cao. Vì vậy, việc giảm thuế được đánh giá không gây tác động đáng kể tới nguồn cung và thị trường nội địa.

Theo tính toán trên kim ngạch xuất khẩu năm 2025, phương án này dự kiến làm giảm thu ngân sách khoảng 435.000 USD/năm, tương đương khoảng 11 tỷ đồng.

Với urea, Bộ Tài chính cũng đề xuất giảm thuế xuất khẩu từ 5% xuống 0%. Đây là điểm đáng chú ý bởi urea có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng khí tự nhiên, than đá và nguồn khí đồng hành.

Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng việc các doanh nghiệp chủ động đầu tư công nghệ thu hồi, tận dụng nguồn khí phát sinh trong quá trình khai thác dầu khí đã góp phần sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế khí bị đốt bỏ hoặc thất thoát.

Đồng thời, năng lực sản xuất urea trong nước hiện đã cơ bản đáp ứng nhu cầu nội địa và còn dư để xuất khẩu. Vì vậy, giảm thuế xuất khẩu được kỳ vọng giúp nâng cao khả năng cạnh tranh về giá của urea Việt Nam trên thị trường quốc tế, tăng lợi nhuận doanh nghiệp và qua đó tạo thêm nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp để bù đắp một phần số giảm thu từ thuế xuất khẩu.

Theo phương án Bộ Tài chính trình, số thu ngân sách từ thuế xuất khẩu urea dự kiến giảm khoảng 16,4 triệu USD, tương đương khoảng 428 tỷ đồng/năm, tính theo kim ngạch xuất khẩu năm 2025.

Ở chiều ngược lại, supe lân tiếp tục được đề xuất giữ nguyên thuế suất 5%. Lý do bởi kim ngạch xuất khẩu supe lân năm 2025 chỉ khoảng 18 triệu USD, thấp hơn nhiều so với urea. Vấn đề nằm ở nguồn nguyên liệu đầu vào.

Supe lân sử dụng quặng phosphat khai thác trong nước. Đây là nguồn tài nguyên tự nhiên không tái tạo và đang được xác định có ý nghĩa đối với nhiều ngành công nghiệp.

Theo Bộ Tài chính, quặng apatit và phosphorit không chỉ được sử dụng để sản xuất phân bón mà còn là nguồn tài nguyên cần được cân nhắc trong định hướng phát triển các ngành công nghiệp vật liệu chiến lược.

Do đó, thay vì khuyến khích xuất khẩu sản phẩm sử dụng tài nguyên khoáng sản trong nước thông qua việc giảm thuế, chính sách được định hướng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, ưu tiên chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng và dành nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn.

Đây cũng là cơ sở để Bộ Tài chính không lựa chọn phương án giảm thuế xuất khẩu supe lân xuống 0%.

Theo Bộ Tài chính, phương án điều chỉnh theo đề xuất phù hợp với thẩm quyền của Chính phủ theo Điều 11 Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu, đồng thời bảo đảm các nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất và khung thuế suất thuế xuất khẩu được quy định tại Điều 10 của Luật này.

Điểm đáng chú ý vì vậy không chỉ là giảm hay không giảm thuế, mà là cách chính sách thuế phân biệt giữa những ngành hàng có thể thúc đẩy xuất khẩu bằng lợi thế sản xuất trong nước với những sản phẩm đang sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản cần được bảo tồn và ưu tiên cho các mục tiêu phát triển dài hạn.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hướng dẫn quy trình nghiệp vụ quản lý thuế hộ kinh doanh

Hướng dẫn quy trình nghiệp vụ quản lý thuế hộ kinh doanh

Cục Thuế ban hành sổ tay nghiệp vụ hướng dẫn quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, nhằm thống nhất các bước xử lý, làm rõ trách nhiệm thực hiện và phối hợp, hạn chế sai sót, chậm trễ trong giải quyết công việc.
Doanh nghiệp chế xuất: Đề xuất chính sách thuế khi vi phạm giám sát

Doanh nghiệp chế xuất: Đề xuất chính sách thuế khi vi phạm giám sát

Doanh nghiệp chế xuất không khắc phục điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan trong tối đa 30 ngày sẽ không được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan. Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2015/TT-BTC, Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Thông tư số 121/2025/TT-BTC (gọi tắt là dự thảo Thông tư) làm rõ yêu cầu chứng minh nguồn gốc, mục đích sử dụng và tình trạng quản lý hàng hóa để xác định nghĩa vụ thuế khi vi phạm.
AJCEP đổi quy tắc, doanh nghiệp cần tính lại xuất xứ

AJCEP đổi quy tắc, doanh nghiệp cần tính lại xuất xứ

Từ ngày 15/2/2027, Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR) trong Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) dự kiến chuyển từ mã hóa hàng hóa năm 2017 (HS 2017) sang HS 2022. Thay đổi này tác động trực tiếp đến việc xác định xuất xứ hàng hóa, cấp và sử dụng chứng nhận xuất xứ (C/O), đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản sớm rà soát danh mục hàng hóa, nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất để bảo đảm khả năng tiếp tục hưởng ưu đãi thuế quan.
Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp: Góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm

Bộ Tài chính vừa công khai lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về xóa nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp cho người nộp thuế trạng thái 03, 06. Các chuyên gia cho rằng, chính sách này góp phần tháo gỡ điểm nghẽn tồn đọng nhiều năm và hỗ trợ làm sạch dữ liệu trong quản lý thuế.
Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế: Chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận. Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2026–2030 đặt ra định hướng là chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống sang kiểm tra trên nền tảng công nghệ số, khai thác dữ liệu tập trung và quản lý rủi ro.
Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Hướng dẫn xác định sản lượng và giá tính thuế tài nguyên đối với quặng chì, kẽm

Cục Thuế vừa có Công văn số 7943/CT-QLNT hướng dẫn về chính sách thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, chế biến quặng chì, kẽm của Chi nhánh Công ty TNHH TMDV Hoàng Nam tại tỉnh Thái Nguyên. Trong đó, cơ quan thuế lưu ý việc xác định sản lượng và giá tính thuế phải căn cứ vào đặc điểm tài nguyên khai thác, quy trình chế biến và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Cơ chế đặc thù xử lý mã số thuế tồn đọng có thể giảm tới 90% nghĩa vụ tài chính

Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, các đề xuất của Bộ Tài chính nếu được thực hiện không chỉ góp phần tháo gỡ gánh nặng tài chính, mà còn tạo động lực xử lý mã số thuế tồn đọng, mở ra cơ hội cho người nộp thuế trở lại thị trường.
Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Vì sao nên giữ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng?

Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên mức thanh toán không dùng tiền mặt khi xác định chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 5 triệu đồng lên nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và phù hợp với chủ trương đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt.
Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Thống nhất thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân làm đại lý bảo hiểm

Cục Thuế vừa ban hành Công văn số 7978/CT-NVT yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố chấn chỉnh tình trạng tiếp nhận, xử lý hồ sơ chưa thống nhất, đồng thời hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm.
Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Bài 4: Củng cố niềm tin vào môi trường kinh doanh

Từ thực tiễn triển khai Chiến dịch làm sạch mã số thuế, đến các cơ chế đặc thù giải quyết các vướng mắc đang được Bộ Tài chính đề xuất đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương thức quản lý theo vòng đời người nộp thuế, nâng cao tính minh bạch của dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đáng tin cậy hơn.
Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Gỡ vướng mã số thuế tồn đọng mang lại lợi ích kép cho nền kinh tế

Nhiều ý kiến góp ý từ các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp và tư vấn thuế đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong đề xuất cơ chế đặc thù tháo gỡ những tồn đọng về mã số thuế. Các ý kiến cho rằng, các đề xuất này không chỉ góp phần giảm gánh nặng tuân thủ, cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Máy móc miễn thuế quá 10 năm được đề xuất hai phương án xử lý

Máy móc miễn thuế quá 10 năm được đề xuất hai phương án xử lý

Đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu miễn thuế đã quá 10 năm, khấu hao hết giá trị và không còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2015/TT-BTC, Thông tư số 39/2018/TT-BTC và Thông tư số 121/2025/TT-BTC (gọi tắt là dự thảo Thông tư) đưa ra hai phương án xử lý khi doanh nghiệp thay đổi mục đích sử dụng. Điểm khác biệt nằm ở thủ tục khai báo và cơ quan tiếp nhận nghĩa vụ thuế, là nội dung doanh nghiệp cần lưu ý khi rà soát, xử lý tài sản.
Khi người tiêu dùng trở thành mắt xích chống thất thu thuế

Khi người tiêu dùng trở thành mắt xích chống thất thu thuế

Từ thói quen không lấy hóa đơn trong những giao dịch thường ngày, người tiêu dùng có thể vô tình tạo nguy cơ thất thu thuế. Khuyến khích người mua lấy hóa đơn khi mua hàng hoá dịch vụ không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi mà còn tạo thêm kênh giám sát hoạt động kinh doanh, hạn chế thất thu ngân sách. Khi mỗi người mua chủ động ghi nhận giao dịch, minh bạch thị trường không còn là trách nhiệm riêng của cơ quan quản lý và người bán.
Sản phẩm tái chế xuất khẩu có được miễn thuế?

Sản phẩm tái chế xuất khẩu có được miễn thuế?

Tiêu chí xác định sản phẩm được miễn thuế xuất khẩu có sự thay đổi từ ngày 6/1/2025, doanh nghiệp cần căn cứ quy định áp dụng tại từng thời kỳ.
Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Giảm thuế trong hai năm liên tiếp: Chính sách sát thực tiễn, doanh nghiệp có thêm động lực phát triển

Trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều áp lực về chi phí đầu vào, thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận nguồn vốn, chính sách hỗ trợ về thuế tiếp tục là một trong những giải pháp quan trọng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Đặc biệt, chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027 được kỳ vọng góp phần giảm áp lực chi phí, cải thiện dòng tiền, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp nhỏ và vừa duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Đọc nhiều

quy-dinh-ve-dang-bai-gioi-thieu-cong-bo-ket-qua-nghien-cuu-tren-tap-chi-kinh-te-tai-chinh
vietnam-post-avinh-13-10-13-11
toan-phat-group-2026
cty-cp-dai-phuc
acca-dung-24-10-30-11
tap-doan-than-khoang-san
agribank
phan-mem-ecus5
thong-bao
cong-ty-tnhh-thuong-mai-va-dich-vu-eco-patuo-viet-nam
qc-demo-3
qc-demo-4
qc-demo