![]() |
| Bộ Tài chính đề nghị điều chỉnh thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng phân bón. Ảnh: DNSE.com.vn |
Không thể giảm thuế đồng loạt với các loại phân bón
Bộ Tài chính dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2023/NĐ-CP về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan.
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng phân bón, trong đó urea và kali sulphat (SOP) được đề xuất giảm từ 5% xuống 0%, còn supe lân tiếp tục giữ mức 5%.
Tại dự thảo tờ trình, cơ quan soạn thảo cho biết, Hiệp hội Phân bón Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) đã có kiến nghị giảm thuế suất thuế xuất khẩu đối với phân urea, supe lân và kali sulphat (SOP) từ 5% xuống 0%.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các nhà máy trong nước hiện đã sản xuất được hầu hết các loại phân bón chủ lực như urea, phân lân, NPK và cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước. Riêng phân kali, trong đó có SOP, phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu.
Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu gần 1,73 triệu tấn phân bón các loại, đạt trên 709,91 triệu USD. Khối lượng xuất khẩu tăng 11,7%, kim ngạch tăng 9,4% nhưng giá xuất khẩu bình quân giảm khoảng 2% so với năm 2023. Campuchia là thị trường xuất khẩu chủ yếu, chiếm 34,3% tổng khối lượng và 33,9% tổng kim ngạch xuất khẩu phân bón của Việt Nam.
Tuy nhiên, xét riêng từng loại phân bón, điều kiện sản xuất và mức độ sử dụng nguồn lực trong nước có sự khác biệt đáng kể.
Đối với urea, cả nước hiện có 4 nhà máy với tổng công suất khoảng 2,73 triệu tấn/năm. Giai đoạn 2021-2024, sản lượng sản xuất bình quân đạt khoảng 2,54 triệu tấn/năm, trong khi tiêu thụ nội địa khoảng 2,148 triệu tấn/năm và xuất khẩu khoảng 661.000 tấn/năm, trong đó có cả urea có nguồn gốc nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu urea đạt khoảng 278 triệu USD năm 2024 và khoảng 329 triệu USD năm 2025.
Urea được sản xuất từ amoniac và CO2 – những sản phẩm được chế biến từ khí tự nhiên hoặc than đá. Đáng chú ý, một số nhà máy đã đầu tư công nghệ để thu hồi, tận dụng khí tự nhiên, khí đồng hành phát sinh trong quá trình khai thác dầu khí, qua đó hạn chế việc đốt bỏ hoặc để khí thất thoát.
Với SOP, Việt Nam hiện chỉ có một nhà máy sản xuất, công suất khoảng 20.000 tấn/năm. Loại phân này được sản xuất từ kali clorua nhập khẩu và không sử dụng tài nguyên khoáng sản trong nước.
Giai đoạn 2022-2024, sản lượng sản xuất bình quân khoảng 20.000 tấn/năm, xuất khẩu 10.000 tấn, nhập khẩu 13.000 tấn và tiêu thụ nội địa khoảng 23.000 tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu SOP năm 2025 khoảng 8,7 triệu USD.
Trong khi đó, supe lân có đặc điểm hoàn toàn khác. Cả nước có 7 nhà máy sản xuất phân lân với tổng công suất khoảng 2 triệu tấn/năm, trong đó công suất supe lân khoảng 1,25 triệu tấn/năm.
Giai đoạn 2021-2024, tổng sản lượng phân lân đạt bình quân 1,15 triệu tấn/năm, supe lân chiếm khoảng 67%; tiêu thụ nội địa khoảng 1,009 triệu tấn và xuất khẩu khoảng 161.000 tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu supe lân đạt khoảng 13,2 triệu USD năm 2024 và 18 triệu USD năm 2025.
Điểm khác biệt quan trọng là supe lân được sản xuất hoàn toàn từ quặng phosphat khai thác trong tự nhiên, chủ yếu là quặng apatit hoặc phosphorit. Đây là nguồn tài nguyên khoáng sản không tái tạo.
Chính sự khác biệt này khiến bài toán thuế không đơn thuần là giảm chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn liên quan đến cách thức phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên trong nước.
Theo quy định hiện hành, cả ba nhóm mặt hàng đều thuộc khung thuế suất thuế xuất khẩu từ 0%-40% theo Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu; mức thuế suất cụ thể tại Nghị định số 26/2023/NĐ-CP hiện là 5%.
Trước những diễn biến bất thường của xung đột Trung Đông và nguy cơ giá phân bón thế giới tăng, hồi tháng 5/2026, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ trước mắt chưa điều chỉnh thuế suất xuất khẩu đối với phân bón (urea, SOP và supe lân).
Đến nay, khi tình hình xung đột đã có phần cải thiện, giá phân bón trong nước và thế giới dần ổn định, Bộ Tài chính tiếp tục xem xét phương án điều chỉnh. Nhưng thay vì giảm đồng loạt cả 3 mặt hàng, cơ quan này phân loại theo đặc điểm sản xuất và nguồn nguyên liệu.
Urea và SOP về 0%, supe lân tiếp tục 5%
Đối với SOP, Bộ Tài chính tiếp thu ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đề xuất giảm thuế xuất khẩu từ 5% xuống 0%.
Lý do là SOP được sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu, không sử dụng tài nguyên khoáng sản trong nước; quy mô sản xuất và xuất khẩu không lớn, trong khi nhu cầu sử dụng trong nước đối với loại phân bón này cũng không cao. Vì vậy, việc giảm thuế được đánh giá không gây tác động đáng kể tới nguồn cung và thị trường nội địa.
Theo tính toán trên kim ngạch xuất khẩu năm 2025, phương án này dự kiến làm giảm thu ngân sách khoảng 435.000 USD/năm, tương đương khoảng 11 tỷ đồng.
Với urea, Bộ Tài chính cũng đề xuất giảm thuế xuất khẩu từ 5% xuống 0%. Đây là điểm đáng chú ý bởi urea có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng khí tự nhiên, than đá và nguồn khí đồng hành.
Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng việc các doanh nghiệp chủ động đầu tư công nghệ thu hồi, tận dụng nguồn khí phát sinh trong quá trình khai thác dầu khí đã góp phần sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế khí bị đốt bỏ hoặc thất thoát.
Đồng thời, năng lực sản xuất urea trong nước hiện đã cơ bản đáp ứng nhu cầu nội địa và còn dư để xuất khẩu. Vì vậy, giảm thuế xuất khẩu được kỳ vọng giúp nâng cao khả năng cạnh tranh về giá của urea Việt Nam trên thị trường quốc tế, tăng lợi nhuận doanh nghiệp và qua đó tạo thêm nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp để bù đắp một phần số giảm thu từ thuế xuất khẩu.
Theo phương án Bộ Tài chính trình, số thu ngân sách từ thuế xuất khẩu urea dự kiến giảm khoảng 16,4 triệu USD, tương đương khoảng 428 tỷ đồng/năm, tính theo kim ngạch xuất khẩu năm 2025.
Ở chiều ngược lại, supe lân tiếp tục được đề xuất giữ nguyên thuế suất 5%. Lý do bởi kim ngạch xuất khẩu supe lân năm 2025 chỉ khoảng 18 triệu USD, thấp hơn nhiều so với urea. Vấn đề nằm ở nguồn nguyên liệu đầu vào.
Supe lân sử dụng quặng phosphat khai thác trong nước. Đây là nguồn tài nguyên tự nhiên không tái tạo và đang được xác định có ý nghĩa đối với nhiều ngành công nghiệp.
Theo Bộ Tài chính, quặng apatit và phosphorit không chỉ được sử dụng để sản xuất phân bón mà còn là nguồn tài nguyên cần được cân nhắc trong định hướng phát triển các ngành công nghiệp vật liệu chiến lược.
Do đó, thay vì khuyến khích xuất khẩu sản phẩm sử dụng tài nguyên khoáng sản trong nước thông qua việc giảm thuế, chính sách được định hướng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, ưu tiên chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng và dành nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn.
Đây cũng là cơ sở để Bộ Tài chính không lựa chọn phương án giảm thuế xuất khẩu supe lân xuống 0%.
Theo Bộ Tài chính, phương án điều chỉnh theo đề xuất phù hợp với thẩm quyền của Chính phủ theo Điều 11 Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu, đồng thời bảo đảm các nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất và khung thuế suất thuế xuất khẩu được quy định tại Điều 10 của Luật này.
Điểm đáng chú ý vì vậy không chỉ là giảm hay không giảm thuế, mà là cách chính sách thuế phân biệt giữa những ngành hàng có thể thúc đẩy xuất khẩu bằng lợi thế sản xuất trong nước với những sản phẩm đang sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản cần được bảo tồn và ưu tiên cho các mục tiêu phát triển dài hạn.