![]() |
| Việc áp dụng thuế suất 0% đối với các linh kiện nhập khẩu sản xuất ô tô là chính sách hợp lý nhằm khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước. Ảnh: Hương Quỳnh, hỗ trợ bởi AI. |
Ưu đãi thuế tạo thêm dư địa sản xuất
Chương trình ưu đãi thuế nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp ô tô được triển khai từ năm 2018, trong bối cảnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định ATIGA đối với ô tô giảm xuống 0%.
Hiện chương trình được quy định tại Điều 8 Nghị định số 26/2023/NĐ-CP, theo đó doanh nghiệp đáp ứng điều kiện được áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0% đối với linh kiện ô tô thuộc loại trong nước chưa sản xuất được. Chương trình thực hiện đến hết năm 2027.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, việc áp dụng thuế suất 0% đối với các linh kiện này là chính sách hợp lý để khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp ô tô trong nước.
Sau khi thực hiện chương trình, các doanh nghiệp tiếp tục mở rộng sản xuất tại Việt Nam. Một số doanh nghiệp có quy mô đầu tư lớn như Toyota với tổng vốn đầu tư 220 triệu USD, công suất 90.000 xe/năm; Honda trên 200 triệu USD, công suất 30.000 xe/năm; Ford sau khi mở rộng đạt mức đầu tư 200 triệu USD; Mitsubishi 250 triệu USD và Suzuki 100 triệu USD.
Kết quả sản xuất cũng cho thấy, quy mô ngành ô tô trong nước tiếp tục tăng. Nếu như năm 2024, sản lượng ô tô sản xuất trong nước ước đạt 388.500 xe, tăng 27% so với năm 2023, thì đến năm 2025 con số này lần lượt đạt 484.500 xe, tăng 39,1% so với năm trước và vượt 4% mục tiêu 466.400 xe được xác định trong Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.
Không chỉ vậy, việc tham gia chương trình cũng giúp năng lực xuất khẩu ô tô nguyên chiếc cũng có bước tiến.
Theo báo cáo tổng kết thi hành một số điều của Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan, năm 2025, cả nước xuất khẩu 39.761 xe, trị giá hơn 824,53 triệu USD, tăng mạnh so với năm 2024 và vượt mục tiêu 37.000 xe được đặt ra trong Chiến lược.
Đối với chính sách thuế, quy mô hỗ trợ được thể hiện rõ qua số thuế nhập khẩu được hoàn. Theo số liệu của Cục Hải quan, Chương trình ưu đãi thuế ô tô đã thực hiện 16 kỳ ưu đãi, mỗi kỳ 6 tháng. Tính đến ngày 15/5/2026, tổng số thuế nhập khẩu được hoàn qua 16 kỳ là 51.214 tỷ đồng cho 16 doanh nghiệp.
Những kết quả này cho thấy, chương trình ưu đãi thuế đã góp phần tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì, mở rộng sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước. Việc giảm chi phí đối với nhóm linh kiện trong nước chưa sản xuất được giúp doanh nghiệp có thêm dư địa trong tổ chức sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ô tô ngày càng có sự cạnh tranh giữa xe sản xuất trong nước và xe nhập khẩu.
Tuy nhiên, kết quả của chính sách không chỉ được nhìn ở số lượng xe sản xuất hay quy mô ưu đãi thuế. Một mục tiêu quan trọng hơn của việc phát triển ngành ô tô là hình thành năng lực sản xuất trong nước và từng bước nâng cao tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước.
Từ mở rộng sản xuất đến phát triển công nghiệp hỗ trợ
Thực tế cho thấy, kết quả nội địa hóa đã có những chuyển biến nhưng chưa đồng đều giữa các phân khúc. Đối với xe tải, xe khách, tỷ lệ nội địa hóa đã đạt khoảng 40-60%, cơ bản tiệm cận hoặc đạt mục tiêu 45-55% của Chiến lược. Một số doanh nghiệp đã có tỷ lệ nội địa hóa cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu.
Trong khi đó, đối với xe cá nhân đến 9 chỗ, tỷ lệ nội địa hóa hiện mới khoảng 12-20%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 40-45% vào năm 2025. Sự chênh lệch này cho thấy việc mở rộng sản lượng sản xuất, lắp ráp chưa đồng nghĩa với việc tất cả các phân khúc đều hình thành được chuỗi cung ứng trong nước tương ứng.
Cùng với đó, công nghiệp hỗ trợ ô tô vẫn còn những điểm cần tiếp tục phát triển. Việt Nam hiện có khoảng 410 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ô tô, với 1.229 sản phẩm đã được chế tạo. Tuy nhiên, số nhà cung cấp cấp I vẫn chưa đến 100, trong khi số nhà cung cấp cấp II và cấp III khoảng 150. Số lượng chi tiết, cụm chi tiết được nội địa hóa mới khoảng 287, tương đương khoảng 20% danh mục sản phẩm hỗ trợ.
Đáng chú ý, những sản phẩm có giá trị gia tăng cao như động cơ, hệ truyền động, hộp số, điện tử ô tô và chip vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Đây là khoảng trống cần được tính đến khi nhìn nhận bước phát triển tiếp theo của chính sách ưu đãi thuế.
Đối với Chương trình ưu đãi thuế nhập khẩu công nghiệp hỗ trợ ô tô được quy định tại Điều 9 Nghị định số 26/2023/NĐ-CP, doanh nghiệp đáp ứng điều kiện được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi 0% đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu thuộc loại trong nước chưa sản xuất được để sản xuất, gia công sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ô tô.
Đến ngày 10/4/2026, cơ quan Hải quan đã thực hiện 11 kỳ ưu đãi, với số thuế nhập khẩu được hoàn là 339,94 tỷ đồng. Trong khoảng 410 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ô tô, có 17 doanh nghiệp đăng ký tham gia chương trình.
Các con số này là cơ sở để tiếp tục rà soát mức độ phù hợp của chính sách, nhất là trong việc tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của ngành ô tô. Báo cáo không đưa ra một nguyên nhân duy nhất lý giải số lượng doanh nghiệp tham gia chương trình còn hạn chế, do đó vấn đề đặt ra là cần tiếp tục đánh giá các điều kiện tham gia và khả năng tiếp cận ưu đãi trong thực tế.
Trong khi đó, cả Chương trình ưu đãi thuế ô tô và Chương trình ưu đãi thuế công nghiệp hỗ trợ ô tô đều áp dụng đến hết năm 2027.
Bộ Tài chính cho rằng, cần nghiên cứu việc gia hạn hai chương trình, đồng thời rà soát tổng thể các điều kiện tham gia, trong đó có điều kiện về sản lượng, khí thải, tiêu hao nhiên liệu và kỳ xét ưu đãi.
Việc rà soát diễn ra trong bối cảnh ngành ô tô cũng đang thay đổi nhanh về công nghệ, với xu hướng chuyển sang xe điện, xe sử dụng năng lượng xanh và phương tiện thân thiện với môi trường. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu mới đối với doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, từ năng lực công nghệ đến khả năng đầu tư cho các sản phẩm, linh kiện mới.
Vì vậy, giai đoạn chính sách tiếp theo không chỉ là câu chuyện tiếp tục hay dừng ưu đãi, mà là tiếp tục hoàn thiện chính sách để phù hợp với quá trình phát triển của ngành.
Trên cơ sở kết quả đã đạt được, việc nghiên cứu gia hạn và rà soát Điều 8, Điều 9 Nghị định số 26/2023/NĐ-CP sẽ là cơ sở để chính sách thuế tiếp tục hỗ trợ sản xuất, đồng thời tạo điều kiện cho công nghiệp hỗ trợ nâng cao năng lực và tỷ lệ nội địa hóa.