![]() |
| Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA). Ảnh: Đức Mỹ |
Nhiều vướng mắc cần tháo gỡ
Phát biểu tại Hội thảo thuế giá trị gia tăng gỗ nguyên liệu và gỗ sơ chế - Vướng mắc thực tiễn và giải pháp tháo gỡ, tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh sáng 14/10, ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) cho biết, 800 doanh nghiệp hội viên HAWA hoạt động trong lĩnh vực gỗ, nội thất và thủ công mỹ nghệ, khép kín trong chuỗi cung ứng từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến thương mại và xuất khẩu.
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 của các doanh nghiệp hội viên HAWA đạt khoảng 8,6 tỷ USD, chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước.
Tuy nhiên, những bất cập phát sinh trong thời gian gần đây về việc áp dụng chính sách thuế GTGT ở khâu nhập khẩu và hồ sơ chứng minh nguồn gốc gỗ rừng trồng đang làm chậm quá trình thông quan, phát sinh thêm nhiều chi phí và ảnh hưởng đến dòng vốn của doanh nghiệp.
Cụ thể, những vướng mắc của các doanh nghiệp liên quan đến các vấn đề như:
Thứ nhất, về hồ sơ xác định gỗ nhập khẩu có nguồn gốc từ rừng trồng. Doanh nghiệp hiện gặp nhiều trở ngại do chưa rõ loại chứng từ được chấp nhận, thẩm quyền xác nhận ở nước xuất khẩu cũng như các yêu cầu xác thực tài liệu nước ngoài.
Ngay cả khi đã cung cấp đầy đủ giấy chứng nhận rừng và hồ sơ nguồn gốc, doanh nghiệp vẫn phải giải trình, bổ sung nhiều lần. Việc thủ tục bị kéo dài khiến nguyên liệu chậm đưa vào sản xuất, làm phát sinh chi phí lưu kho bãi, thậm chí buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh khai báo và nộp thuế để kịp giải phóng hàng.
Thứ hai, liên quan đến phân loại gỗ sơ chế thông thường. Hiện tại vẫn tồn tại sự thiếu thống nhất trong cách hiểu và áp dụng đối với các mặt hàng như gỗ xẻ đã sấy, ngâm tẩm bảo quản nhưng chưa bào trơn, hay gỗ bóc, gỗ lạng dùng làm nguyên liệu nội thất.
Mặc dù dự thảo thông tư mới đang trong quá trình làm rõ phạm vi sơ chế thông thường, nhưng trong thời gian chuyển tiếp, doanh nghiệp vẫn rất lúng túng khi xác định chính sách thuế và hải quan tương ứng cho từng khâu, từng đối tượng giao dịch.
![]() |
| Doanh nghiệp ngành gỗ nêu khó khăn, vướng mắc tại hội thảo. Ảnh: Đức Mỹ |
Thứ ba, là số thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu đang bị tồn đọng và chờ xử lý. Nhiều doanh nghiệp đã kê khai và nộp thuế 8% tại hải quan, nhưng khi làm thủ tục đề nghị khấu trừ hoặc hoàn thuế thì cơ quan Thuế xác định hàng hóa thuộc diện không chịu thuế.
Thứ tư, hóa đơn đầu vào và hồ sơ hoàn thuế. Doanh nghiệp phản ánh hóa đơn mua gỗ đầu vào có cách thể hiện thuế suất không đồng nhất giữa các nhà cung cấp, nơi ghi thuế suất 8%, nơi lại để không kê khai, nộp thuế.
Điều này dẫn đến việc một số hóa đơn bị loại hoặc phải tạm rút khỏi hồ sơ hoàn thuế. Doanh nghiệp gặp khó khăn khi giao dịch đã hoàn tất nhưng nhà cung cấp chưa phối hợp điều chỉnh hóa đơn, làm hồ sơ hoàn thuế bị kéo dài mà chưa có giải pháp tháo gỡ.
Thứ năm liên quan đến phụ phẩm, viên nén và nguyên liệu dùng chung. Doanh nghiệp lúng túng trong việc phân biệt chính sách đối với phụ phẩm làm nguyên liệu và sản phẩm sau chế biến, nhất là khi qua các công đoạn nghiền, sấy, đóng bao hay ép viên...
Trước thực trạng trên, các doanh nghiệp kiến nghị các cơ quan chức năng, bộ ngành, liên quan cần khẩn trương có những hướng dẫn rõ ràng và giải quyết dứt điểm các vướng mắc giúp khơi thông nguồn vốn và hàng hóa cho cộng đồng doanh nghiệp.
Đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn
Tại hội thảo, bà Lâm Thanh Hồng, Phó trưởng Phòng Nghiệp vụ Dự toán Pháp chế (Thuế TP. Hồ Chí Minh) chia sẻ về những khó khăn của doanh nghiệp và khẳng định, ngành Thuế luôn đồng hành cùng doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
![]() |
| Bà Lâm Thanh Hồng, Phó trưởng Phòng Nghiệp vụ Dự toán Pháp chế (Thuế TP. Hồ Chí Minh) chia sẻ một số chính sách thuế cho doanh nghiệp. Ảnh: Đức Mỹ |
Bà Lâm Thanh Hồng phân tích, mấu chốt của việc hoàn thuế nằm ở việc xác định bản chất hàng hóa ngay tại khâu nhập khẩu của Hải quan. Nếu cơ quan Hải quan kết luận mặt hàng thuộc đối tượng chịu thuế thì khi làm thủ tục nội địa, cơ quan Thuế mới có cơ sở hoàn thuế hợp lệ.
Ngược lại, nếu Hải quan xác định mặt hàng thuộc đối tượng không chịu thuế nhưng doanh nghiệp đã nộp thì phát sinh vướng mắc trong cơ chế hoàn trả.
Đối với vướng mắc lớn và số lượng hồ sơ tồn đọng nhiều, HAWA nên tổng hợp hồ sơ cụ thể để kiến nghị lên Bộ Tài chính xem xét phương án phối hợp thống nhất giữa cơ quan Hải quan và Thuế. Đồng thời, kiến nghị cấp cao hơn rà soát lại chính sách thuế suất đầu vào để tránh bất cập.
Riêng đối với nhóm phụ phẩm gỗ như dăm bào, mùn cưa và mặt hàng viên nén gỗ, bà Hồng khẳng định đã có văn bản hướng dẫn chính thức.
Theo đó, các phụ phẩm sơ chế thông thường không phải kê khai nộp thuế, nhưng khi doanh nghiệp thu mua về gia công chế biến thành viên nén gỗ thì sản phẩm viên nén hoàn chỉnh là đối tượng chịu thuế GTGT. Thời gian tới, Thuế Thành phố sẽ nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất áp dụng cho tất cả các chi cục thuế cơ sở.
Về phía cơ quan Hải quan, ông Nguyễn Chí Thanh, Phó trưởng Phòng Nghiệp vụ (Chi cục Hải quan khu vực II) nhấn mạnh, ngành Hải quan đã rất nỗ lực tiếp nhận các phản ánh, vướng mắc của HAWA và đơn vị cũng đã có công văn phản hồi hướng dẫn. Tuy nhiên, vướng mắc căn bản hiện nay xuất phát từ việc văn bản pháp luật hiện hành mới chỉ dừng lại ở các khái niệm từ ngữ định tính như thế nào là gỗ sơ chế thông thường, nhưng lại thiếu hoàn toàn các chỉ tiêu kỹ thuật định lượng chi tiết.
Chẳng hạn, trong công đoạn ngâm, tẩm, sấy thì nhiệt độ sấy bao nhiêu độ, độ ẩm gỗ sau sấy còn bao nhiêu phần trăm, hay việc dùng hóa chất bảo quản nào thì vẫn được công nhận là sơ chế thông thường. Ngoài ra, thuật ngữ xác định gỗ rừng trồng nhập khẩu cũng chưa có tiêu chí chứng minh thống nhất, dẫn tới việc cơ quan hải quan ở cơ sở gặp lúng túng và phải đòi hỏi những giấy tờ pháp lý khắt khe như hợp pháp hóa lãnh sự.
Ông Nguyễn Chí Thanh khuyến nghị các doanh nghiệp và HAWA cần phát huy chuyên môn sâu của ngành để chủ động xây dựng một bộ tiêu chí kỹ thuật rõ ràng gồm 3 đến 4 tiêu chuẩn cụ thể cho gỗ rừng trồng và gỗ sơ chế thông thường, từ đó đề xuất trực tiếp với các bộ ngành ban hành quy định áp dụng.
Khi bộ tiêu chí kỹ thuật được thông qua, việc phân loại hàng chịu thuế hay không chịu thuế sẽ minh bạch, từ đó Hải quan và Thuế sẽ tự động kích hoạt cơ chế miễn thuế, hoàn thuế hoặc bù trừ thuế một cách thông suốt.
![]() |
| Ông Nguyễn Đức Nghĩa, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (HUBA) phân tích và đưa ra đề xuất tại hội thảo. Ảnh: Đức Mỹ |
Ở góc độ pháp lý, ông Nguyễn Đức Nghĩa, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, Liên đoàn Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HUBA) nhận định, về câu chữ trong pháp luật, quy định thuế đối với gỗ tròn tự khai thác và gỗ sơ chế chuyển nhượng giữa các doanh nghiệp không chịu thuế GTGT, còn sản phẩm bán cho người tiêu dùng cuối cùng hay sản phẩm viên nén chịu thuế suất theo quy định.
Tuy nhiên, trong thực tế, khoảng trống về mặt khái niệm và tiêu chí đánh giá khiến quá trình thực thi phát sinh nhiều bất cập, gây khó khăn việc hoàn thuế của các doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Đức Nghĩa cho rằng nguyên nhân căn cơ chính là sự thiếu đồng nhất giữa các cơ quan thực thi. Để giải quyết tận gốc vấn đề, đề xuất HAWA cần nhanh chóng soạn thảo văn bản kiến nghị toàn diện gửi trực tiếp đến các sở, ban ngành địa phương và UBND TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, kiến nghị trực tiếp lên cấp cơ quan Trung ương.
Tại hội nghị, ông Phùng Quốc Mẫn nhìn nhận, gốc rễ của những vướng mắc thuế GTGT hiện nay không nằm ở câu chuyện mức thuế suất, mà nằm ở nhận thức, cách phân loại sản phẩm và sự thiếu thống nhất trong quy trình thực thi. Theo ông Mẫn, đối với những nội dung đã được cơ quan chức năng làm rõ và hướng dẫn cụ thể, doanh nghiệp cần chủ động bám sát để thực hiện ngay, không để tình trạng tồn đọng kéo dài.
Đối với những khoảng trống chính sách còn nhiều cách hiểu khác nhau và vượt thẩm quyền địa phương, HAWA sẽ nhanh chóng hệ thống hóa thành nhóm kiến nghị chuyên sâu, xây dựng bộ tiêu chí kỹ thuật cụ thể phối hợp với hồ sơ thực tế để gửi lên các bộ ngành trung ương và Chính phủ xem xét và kịp thời tháo gỡ cho các doanh nghiệp.