![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: T.Nga. |
Khi quy mô thương mại hàng hóa của Việt Nam hướng tới mốc 1.000 tỷ USD, những thách thức đối với quản lý thuế không chỉ đến từ sự gia tăng của các giao dịch xuyên biên giới, mà còn từ sự thay đổi nhanh chóng của phương thức kinh doanh trong nền kinh tế số.
Ngày 17/10, phát biểu tại Hội thảo khoa học cấp Học viện lần thứ 7 năm 2026 với chủ đề “Chính sách và quản lý thuế, hải quan, logistics”, PGS.TS Nguyễn Mạnh Thiều, Phó Giám đốc Học viện Tài chính, cho rằng sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và chuỗi khối đang tạo ra những chuyển dịch mang tính cấu trúc đối với kinh tế thế giới.
Cùng với đó, thương mại điện tử xuyên biên giới tăng trưởng mạnh, đặt ra nhiều thách thức trong xác định giá trị giao dịch, kiểm soát nguồn thu và quản lý chuỗi cung ứng.
Tại Việt Nam, yêu cầu đổi mới càng rõ nét khi kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD, gấp hơn hai lần quy mô GDP. Năm 2026, kim ngạch thương mại hàng hóa được dự báo tiếp tục tăng trưởng, hướng tới ngưỡng 1.000 tỷ USD.
“Quy mô giao dịch ngày càng lớn, phương thức kinh doanh ngày càng đa dạng đặt ra yêu cầu đối với chính sách thuế và năng lực quản lý nguồn thu”, PGS.TS Nguyễn Mạnh Thiều nhấn mạnh.
Với ngành Thuế, bài toán đặt ra không đơn thuần là mở rộng nguồn thu theo quy mô nền kinh tế, mà còn phải theo kịp những mô hình kinh doanh mới, hạn chế thất thu và tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Các vấn đề về thuế đối với thương mại điện tử, kinh tế số, tài sản số và tài sản mã hóa đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cả chính sách lẫn phương thức quản lý.
Định hướng này gắn với yêu cầu ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý nhà nước được nêu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, đồng thời phù hợp với mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 theo Quyết định số 508/QĐ-TTg cũng hướng tới xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số cần vượt ra ngoài việc điện tử hóa các thủ tục hành chính. Trọng tâm tiếp theo là nâng cao khả năng kết nối, đối chiếu dữ liệu, phân tích rủi ro và quản lý tuân thủ, qua đó giúp cơ quan Thuế nhận diện tốt hơn các dấu hiệu bất thường và nâng cao hiệu quả quản lý.
Tuy nhiên, quản lý dựa trên dữ liệu cũng đặt ra yêu cầu về chất lượng thông tin, quyền truy cập và trách nhiệm bảo mật dữ liệu của người nộp thuế. Hiện đại hóa quản lý không chỉ cần công nghệ mà còn đòi hỏi quy trình phù hợp, dữ liệu đáng tin cậy và cơ chế bảo vệ thông tin rõ ràng.
Đây cũng là điều kiện để cân bằng hai mục tiêu: tăng cường khả năng kiểm soát nguồn thu ngân sách nhà nước và giảm gánh nặng tuân thủ cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng nghĩa vụ thuế.
Bên cạnh đổi mới phương thức quản lý, một yêu cầu quan trọng khác là nâng cao vai trò của chính sách thuế đối với chất lượng tăng trưởng.
Theo đánh giá, thuế không chỉ là công cụ huy động nguồn thu ngân sách nhà nước, mà còn tác động đến tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, đổi mới công nghệ và quyết định phân bổ nguồn lực của các chủ thể kinh tế.
![]() |
| Chuyên gia thuế Nguyễn Văn Phụng: chính sách thuế góp phần hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn, khuyến khích mở rộng năng lực sản xuất và nâng cao năng suất trong trung và dài hạn. Ảnh: T.Nga. |
Thông qua những tác động này, chính sách thuế có thể góp phần hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn, khuyến khích mở rộng năng lực sản xuất và nâng cao năng suất trong trung và dài hạn.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng ngày càng rõ nét. Nền kinh tế cần giảm dần sự phụ thuộc vào gia tăng vốn, lao động chi phí thấp và hoạt động gia công, lắp ráp, đồng thời nâng cao vai trò của năng suất, đổi mới sáng tạo, kỹ năng lao động, công nghệ và khu vực kinh tế tư nhân.
Theo chuyên gia thuế Nguyễn Văn Phụng, điều này đặt ra yêu cầu đối với thiết kế chính sách thuế: các biện pháp hỗ trợ cần hướng tới năng lực sản xuất, chất lượng đầu tư và khả năng tạo ra giá trị gia tăng, thay vì chỉ tập trung vào quy mô ưu đãi.
Hiệu quả của các chính sách miễn, giảm thuế vì vậy cần được đánh giá trên cơ sở kết quả thực tế. Một chính sách có thể giúp giảm nghĩa vụ tài chính trước mắt cho doanh nghiệp, nhưng mức độ đóng góp vào tăng trưởng còn phụ thuộc vào việc nguồn lực được giải phóng có chuyển thành đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và tạo thêm giá trị hay không.
Cùng với đó, bảo đảm tính bền vững của nguồn thu vẫn là yêu cầu xuyên suốt. Theo chuyên gia Nguyễn Văn Phụng, kết quả thu ngân sách thuận lợi trong ngắn hạn không làm giảm yêu cầu duy trì kỷ luật tài khóa và thận trọng trong thiết kế các chính sách ưu đãi thuế.
Thu ngân sách vượt tiến độ tại một thời điểm cũng không đồng nghĩa toàn bộ phần tăng thu đều có tính ổn định hoặc đủ cơ sở để tài trợ cho các chính sách miễn, giảm thuế kéo dài.
Nếu không đánh giá đầy đủ tác động ngân sách và hiệu quả kinh tế, chính sách hỗ trợ có thể làm giảm nguồn lực dành cho các nhiệm vụ chi thiết yếu trong tương lai.
Vì vậy, việc thiết kế chính sách cần xác định đúng đối tượng thụ hưởng, lượng hóa khoản thu ngân sách bị giảm, công khai kết quả thực hiện và có cơ chế điều chỉnh hoặc chấm dứt những biện pháp không tạo ra lợi ích tương xứng.
“Chính sách thuế cần đáp ứng đồng thời bốn yêu cầu: linh hoạt trước các cú sốc bên ngoài; định hướng nguồn lực vào năng suất, công nghệ và chất lượng đầu tư; kiểm soát chặt chi phí của các biện pháp miễn, giảm và ưu đãi thuế; xây dựng phương thức quản lý dựa trên dữ liệu nhưng không làm gia tăng bất hợp lý chi phí tuân thủ hoặc rủi ro đối với thông tin của người nộp thuế”, chuyên gia thuế Nguyễn Văn Phụng cho hay.
| Đây là lần thứ 7, Học viện Tài chính tổ chức Hội thảo “Chính sách và quản lý thuế, hải quan, logistics” cấp Học viện. Hội thảo tạo diễn đàn để các nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp trao đổi về những vấn đề lý luận, thực tiễn mới trong quản lý thuế, hải quan và logistics, đồng thời chia sẻ kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm trong nước và quốc tế. Các nội dung được thảo luận tại hội thảo tập trung vào chính sách thuế tối thiểu toàn cầu, thuế đối với thương mại điện tử, thuế xanh, thuế carbon, thuế đối với tài sản số; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hóa đơn điện tử, quản lý rủi ro, chống thất thu và chống chuyển giá. Bên cạnh việc đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, Hội thảo hướng tới tăng cường kết nối giữa Học viện Tài chính với cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, góp phần gắn kết nghiên cứu khoa học với thực tiễn quản lý. |