![]() |
| Thương mại Việt Nam - Hàn Quốc tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Ảnh: Tư liệu |
Nền tảng hợp tác ngày càng sâu rộng
Việt Nam và Hàn Quốc đang đứng trước một thời điểm có ý nghĩa trong quan hệ kinh tế - thương mại song phương. Sau hơn ba thập kỷ, hai nền kinh tế ngày càng gắn kết sâu rộng về thương mại, đầu tư và sản xuất. Tháng 12/2022, hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, tạo khuôn khổ để các cam kết chính trị được chuyển hóa thành hợp tác thực chất hơn.
| Chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Đại Hàn Dân Quốc Cho Jeong Sik và Phu nhân, từ ngày 6-9/9/2026, diễn ra trong bối cảnh hai nước tiếp tục cụ thể hóa khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Đây là chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng, không chỉ thúc đẩy hợp tác nghị viện mà còn góp phần tạo hành lang pháp lý, củng cố niềm tin và đôn đốc triển khai các thỏa thuận cấp cao, trong đó có những nội dung liên quan trực tiếp đến lĩnh vực kinh tế - thương mại và đầu tư. |
Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt 89,5 tỷ USD, tăng 9,6% so với năm 2024. Bảy tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt khoảng 70 tỷ USD, tăng 41% so với cùng kỳ năm trước. Đây là nền tảng quan trọng để hai nước hướng tới mục tiêu, nâng kim ngạch hai chiều lên 150 tỷ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng và bền vững hơn.
Điều đáng chú ý là cấu trúc thương mại mang tính bổ trợ cao giữa hai nền kinh tế. Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc các nhóm hàng thế mạnh như: điện thoại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc, thiết bị, cùng nông sản, thủy sản, dệt may. Ở chiều ngược lại, Hàn Quốc cung cấp máy móc, thiết bị, linh kiện, phụ tùng và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất tại Việt Nam.
Điểm tựa quan trọng khác là dòng vốn đầu tư. Lũy kế đến hết tháng 7/2026, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam trong tổng số 154 quốc gia, với 102,6 tỷ USD vốn đăng ký và 10.567 dự án, chiếm hơn 23% tổng số dự án và 18,2% tổng vốn FDI đăng ký. Dòng vốn tập trung vào các lĩnh vực như: công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao, điện tử, ô tô và phụ tùng, xây dựng, bất động sản; đồng thời đang chuyển dần sang đổi mới sáng tạo, năng lượng và công nghệ số.
Đặc biệt, với sự hiện diện của các tập đoàn hàng đầu Hàn Quốc như: Samsung, LG, Keangnam Enterprises, Lotte, Heesung Electronics Việt Nam, đã góp phần hình thành mạng lưới sản xuất liên kết cao. Trong hệ sinh thái này, một phần hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc và các thị trường thứ ba được sản xuất từ những chuỗi liên kết với doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam.
![]() |
| Samsung là một trong những doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư thành công tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu. |
Tạo xung lực cho chặng đường phát triển mới
Giá trị thực của tăng trưởng thương mại song phương nằm ở khả năng chuyển hóa quy mô trao đổi thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng lớn hơn. Đây là yêu cầu xuyên suốt khi quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc bước sang giai đoạn phát triển mới, trong đó thương mại cần gắn chặt hơn với đầu tư, sản xuất và công nghệ.
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) tiếp tục là nền tảng quan trọng để mở rộng không gian hợp tác. Hiệp định có hiệu lực từ ngày 20/12/2015, với mức độ tự do hóa cao, xóa bỏ hơn 95% dòng thuế của Hàn Quốc và hơn 89% của Việt Nam. Tuy nhiên, quy tắc xuất xứ tương đối chặt chẽ, trong khi nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn khó đáp ứng tiêu chí, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, dư địa từ VKFTA chỉ có thể chuyển thành kết quả thực chất khi năng lực nội tại của doanh nghiệp Việt Nam được nâng lên.
Bên cạnh đó, dư địa hợp tác ngày càng mở rộng ở nhiều lĩnh vực như: công nghiệp công nghệ cao và bán dẫn, năng lượng, hạ tầng điện, trí tuệ nhân tạo, robot và pin thế hệ mới. Hàn Quốc có thế mạnh về điện hạt nhân, LNG, điện gió ngoài khơi, lưu trữ năng lượng và lưới điện thông minh; Việt Nam có nhu cầu lớn phục vụ công nghiệp hóa và sản xuất công nghệ cao.
Ở thị trường hàng hóa, nông sản, thực phẩm, thủy sản, hàng tiêu dùng và thương mại điện tử cũng còn nhiều dư địa hợp tác. Doanh nghiệp Việt Nam cần tiếp cận sâu hơn hệ thống phân phối Hàn Quốc, nâng chất lượng sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn và tăng sự hiện diện trên các nền tảng thương mại điện tử.
Từ đó, yêu cầu đặt ra là mở rộng thị trường phải đi cùng nâng cao chất lượng hàng hóa, đáp ứng tiêu chuẩn Hàn Quốc và tăng khả năng tiếp cận hệ thống phân phối. Đầu tư cần hướng tới những dự án có khả năng hình thành chuỗi cung ứng, chuyển giao công nghệ và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Xúc tiến thương mại cũng cần chuyển từ kết nối đơn thuần sang hỗ trợ hình thành các cơ hội thương mại, đầu tư và công nghệ.
Có thể thấy, mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Hàn Quốc lên 150 tỷ USD vào năm 2030 là khả thi, nếu Việt Nam khai thác hiệu quả VKFTA, tận dụng dòng vốn đầu tư, nâng cao năng lực doanh nghiệp, phát triển công nghiệp hỗ trợ và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo. Những giải pháp này không chỉ mở rộng hợp tác song phương, mà còn gia tăng giá trị nội địa, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, đồng thời giúp doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trị toàn cầu.