![]() |
| Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: Tư liệu. |
Theo số liệu ước tính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 8/2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 6,47 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ước đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.
Về cơ cấu ngành hàng xuất khẩu cho thấy, động lực tăng trưởng đang được phân bổ khá rộng. Kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; nhóm hàng đầu vào sản xuất đạt 2,61 tỷ USD, tăng 64,8%; xuất khẩu muối đạt 10,4 triệu USD, tăng 44,4% so với cùng kỳ.
Những con số này phản ánh khả năng mở rộng ở các nhóm hàng có quy mô khác nhau, đồng thời cho thấy tăng trưởng không chỉ dựa vào một vài mặt hàng truyền thống.
Trong tháng 8/2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam ước đạt 1,24 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm 2026 lên 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường Trung Quốc chiếm 58,9% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả; Hoa Kỳ và Hàn Quốc lần lượt chiếm 7,6% và 4,2%.
Bên cạnh đó, ngành thủy sản cũng giữ vai trò quan trọng, với kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,08 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch 8 tháng năm 2026 lên 7,94 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường Trung Quốc chiếm 24%, Hoa Kỳ 15,6% và Nhật Bản 13,7%.
Ngành gỗ, với kim ngạch xuất khẩu đạt 11,69 tỷ USD sau 8 tháng năm 2026, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Hoa Kỳ chiếm 49,9%, Trung Quốc 15% và Nhật Bản 12,4%.
Đáng chú ý, xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc tăng 46,4%, trong khi Hoa Kỳ giảm 5,8% so với cùng kỳ năm trước.
Xét về thị trường, châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm 45,5% thị phần; châu Mỹ chiếm 21,5% và châu Âu 13,4%. Giá trị xuất khẩu sang châu Á tăng 11,3%, châu Mỹ tăng 0,6%, châu Âu tăng 1,7%, châu Đại Dương tăng 16,4%, còn châu Phi giảm 18,3%.
Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản đứng đầu với thị phần lần lượt 22,7%, 19,1% và 6,8%. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 22,1%, Nhật Bản tăng 2%, còn Hoa Kỳ giảm nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm trước.
Bức tranh xuất khẩu 8 tháng năm 2026 cũng cho thấy, tăng trưởng chưa đồng đều và chất lượng tăng trưởng cần được quan tâm hơn.
Cụ thể, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,3 triệu tấn, trị giá 6 tỷ USD, tăng 13,1% về khối lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị, do giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%, xuống còn khoảng 4.538 USD/tấn
Gạo cũng chịu sức ép ở cả hai phía. Xuất khẩu gạo đạt khoảng 6 triệu tấn, trị giá 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về lượng và 11,9% về giá trị; giá xuất khẩu bình quân đạt 480,9 USD/tấn, giảm 6%. Philippines vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm 43,2%, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng tới 92,2%.
Cao su đạt 936,1 nghìn tấn, trị giá 1,86 tỷ USD, giảm lần lượt 16,1% và 6,2%, dù giá bình quân tăng 11,9% lên 1.986 USD/tấn. Hạt điều đạt 3,35 tỷ USD, tăng 2%; hạt tiêu đạt 1,24 tỷ USD, tăng 9,6%. Sản phẩm chăn nuôi tiếp tục tạo điểm nhấn khi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; riêng sữa và sản phẩm sữa đạt 139,3 triệu USD, tăng 79,2%...
Đây là tín hiệu cho thấy dư địa tăng trưởng còn hiện hữu ở những nhóm hàng có khả năng mở rộng thị trường và giá trị.
Ở chiều nhập khẩu, tháng 8/2026 có dấu hiệu chậm lại khi kim ngạch nhập khẩu đạt 4,01 tỷ USD, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Dù vậy, 8 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu vẫn đạt khoảng 35,06 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước.
Nhập khẩu nông sản đạt 22,24 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ; sản phẩm chăn nuôi đạt 3,6 tỷ USD, tăng 22,9%; lâm sản đạt 2,48 tỷ USD, tăng 16,2%. Ngược lại, thủy sản đạt 2,12 tỷ USD, giảm 1,5%; đầu vào sản xuất đạt 4,57 tỷ USD, giảm 12,9% so với cùng kỳ.
Châu Á và châu Mỹ là hai khu vực nhập khẩu chính, chiếm lần lượt 30,6% và 23,6% thị phần. Nhập khẩu từ châu Á tăng 10,4%, châu Mỹ tăng 6,6%, châu Đại Dương tăng 6%, trong khi châu Âu giảm 3,7% và châu Phi giảm 12,4%. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Campuchia dẫn đầu với thị phần lần lượt là 10,2%, 9,7% và 7,2%; nhập khẩu từ ba thị trường này tăng tương ứng 22,4%, 8% và 21,7%.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá trong 8 tháng, nhưng kết quả giữa các ngành hàng có sự khác biệt đáng kể. Một số mặt hàng tăng giá trị nhờ cải thiện sản lượng hoặc nhu cầu thị trường, trong khi cà phê, gạo, cao su và sắn chịu tác động từ giá hoặc lượng xuất khẩu giảm.
Diễn biến này cho thấy, bên cạnh mở rộng thị trường, việc nâng giá trị gia tăng, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường tiếp tục là yếu tố quan trọng để ngành nông, lâm, thủy sản Việt Nam duy trì tăng trưởng xuất khẩu trong những tháng cuối năm.