![]() |
| Cục trưởng Cục Hải quan Nguyễn Văn Thọ (đứng bên phải) thị sát Trung tâm giám sát trực tuyến của Chi cục Hải quan khu vực III. Ảnh: Thái Bình. |
Nỗ lực tạo thuận lợi thương mại
Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ. Quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng gia tăng.
Nếu như bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21 (năm 2021), tổng kim ngạch xuất nhập của Việt Nam đạt 668,55 tỷ USD, thì năm 2025 đạt 930 tỷ USD và dự kiến lập dấu mốc kỷ lục mới 1.000 tỷ USD trong năm 2026. Với kết quả này, nước ta tiếp tục vững vàng ở top các thị trường có quy mô thương mại hàng đầu thế giới.
Trong Báo cáo “Triển vọng và Thống kê Thương mại Toàn cầu -tháng 3/2026" của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam nổi lên như một điểm sáng với những kết quả tăng trưởng ấn tượng, tiếp tục khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam vươn lên vị trí thứ 18 thế giới và nhập khẩu xếp thứ 20.
Góp phần quan trọng vào kết quả trên không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của ngành Hải quan.
Xác định vai trò then chốt trong việc hỗ trợ và kiến tạo môi trường thuận lợi, tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu, ngành Hải quan đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung và hoạt động giao thương hàng hóa nói riêng.
Cục trưởng Cục Hải quan NGUYỄN VĂN THỌ |
Theo Cục trưởng Cục Hải quan Nguyễn Văn Thọ, các giải pháp nổi bật có thể kể đến như, nỗ lực cải cách, đơn giản hoá thủ tục, cắt giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục hành chính, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không cần thiết trong lĩnh vực hải quan, tạo thuận lợi thương mại, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.
Điển hình là Cục Hải quan đã tham mưu Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.16/2026/NQCP (ngày 7/4/2026) có hiệu lực từ ngày 15/4/2026. Mấu chốt của nghị quyết là gỡ bỏ tư duy quản lý cũ để thiết lập mô hình quản trị mới dựa trên mức độ tuân thủ của doanh nghiệp.
Theo đó, Cục Hải quan đã rà soát, bãi bỏ và sửa đổi đối với 28 thủ tục hành chính, trong đó bãi bỏ hoàn toàn 17 thủ tục mang tính định danh cũ và sửa đổi bổ sung 11 thủ tục. Ngành Hải quan cũng tích cực ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong lĩnh vực hải quan theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong hoạt động nghiệp vụ hải quan để giúp doanh nghiệp thuận tiện trong thực hiện thủ tục, giảm thời gian thông quan hàng hóa.
Để “lắng nghe hơi thở từ cuộc sống”, hằng năm, cơ quan Hải quan các cấp còn tổ chức hàng trăm hội nghị đối thoại với nhiều quy mô khác nhau để kịp thời lắng nghe, hướng dẫn, xử lý những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan của doanh nghiệp, đảm bảo việc thông quan hàng hóa diễn ra thuận lợi, nhanh chóng.
Trong nhiều giải pháp tạo thuận lợi của ngành Hải quan không thể không nhắc đến việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Thông qua nỗ lực tham gia đàm phán và thực thi các cam kết quốc tế, Hải quan Việt Nam đã góp phần thúc đẩy thương mại cân bằng, hài hòa với các nước trên thế giới, đảm bảo lợi thế cạnh tranh quốc gia, góp phần vào sự phát triển bền vững của kinh tế đất nước.
“Không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách nội ngành, với vai trò cơ quan Thường trực của Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại (Ủy ban 1899), Cục Hải quan đã tích cực thực hiện tốt nhiệm vụ điều phối, đôn đốc và phối hợp với các bộ, ngành đẩy mạnh triển khai các thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN”, Cục trưởng Nguyễn Văn Thọ nhấn mạnh.
Dấu ấn chuyển đổi số
Một trong các giải pháp tạo thuận lợi quan trọng của ngành Hải quan là đẩy mạnh hiện đại hóa hải quan. Tiến trình hiện đại hóa hải quan là quá trình được triển khai liên tục và chứng kiến nhiều dấu mốc thể hiện vai trò tiên phong của ngành Hải quan.
Ngược thời gian trở về thập niên 90 của thế kỷ trước, khi những chiếc máy vi tính còn khá xa lạ ở nước ta, Hải quan Việt Nam đã bắt tay vào ứng dụng tin học hóa (chương trình SYDONIA) năm 1995.
Đến đầu những năm 2000 là thực hiện khai báo hải quan từ xa và tiếp đó là thủ tục hải quan điện tử (năm 2005). Đặc biệt, từ năm 2014, ngành Hải quan chính thức vận hành hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS do Nhật Bản viện trợ.
Đây là lần đầu tiên dữ liệu hải quan được tập trung hóa trên phạm vi toàn quốc, việc thông quan được thực hiện tự động. Đáng chú ý, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ ở cả trong nước và trên thế giới, ngành Hải quan tiếp tục thể hiện vai trò tiên phong trong ứng dụng công nghệ vào công tác quản lý nhà nước về hải quan.
Điểm nhấn trong chuyển đổi số của ngành Hải quan chính là thực hiện thí điểm thông quan tập trung từ ngày 1/6/2026 tại Chi cục Hải quan khu vực III (TP. Hải Phòng).
Theo Phó Cục trưởng Cục Hải quan Âu Anh Tuấn, việc thực hiện thông quan tập trung không chỉ nhằm thực hiện các mục tiêu trong Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2030, mà còn là giải pháp nhằm cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, cũng như áp dụng khoa học công nghệ trong các hoạt động của cơ quan Hải quan theo hướng ứng dụng tối đa công nghệ, hướng tới số hóa hồ sơ, số hóa quy trình và thực hiện hải quan phi giấy tờ.
Mặt khác, trong bối cảnh khối lượng công việc của ngành Hải quan ngày càng tăng (trung bình tăng trên 10% đến 15% một năm), trong khi số biên chế đang được tinh giản theo chủ trương chung, do đó, nếu không thực hiện mô hình thông quan tập trung thì không thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới…
Từ góc độ của đơn vị trực tiếp thực hiện, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực III Trần Mạnh Cường chia sẻ, hơn tháng triển khai, thông quan tập trung đã mang lại những hiệu quả rõ nét. Đặc biệt là đảm bảo thông quan thông suốt và giảm thời gian thông quan hàng hóa cho cộng đồng doanh nghiệp.
“Khi thực hiện thông quan tập trung, thời gian thông quan trung bình giảm từ 16% đến trên 22% so với trước đây. Hiện nay, doanh nghiệp chỉ làm việc với một đầu mối thống nhất, tiêu chí xử lý hồ sơ được áp dụng đồng nhất, quy trình số hóa chứng từ được triển khai rộng rãi, việc phân công hồ sơ hoàn toàn tự động và có lưu vết điện tử.
Điều quan trọng hơn, thông quan tập trung đã chứng minh một thực tế dù một bộ máy tinh gọn vẫn có thể vận hành hiệu quả hơn nếu được tổ chức trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số. Đây là minh chứng thực tiễn cho chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước”, Chi cục trưởng Trần Mạnh Cường nhấn mạnh.
Thành công bước đầu của thông quan tập trung cũng là cơ sở quan trọng để ngành Hải quan triển khải diện rộng, hướng tới mục tiêu cao hơn là thực hiện Hải quan số.
Thể hiện tư duy quản lý hiện đại
Những kết quả cải cách, hiện đại hóa và tạo thuận lợi thương mại của ngành Hải quan đã đáp ứng yêu cầu tăng trưởng của hoạt động xuất nhập khẩu và nhận được sự ghi nhận, đánh giá cao của lãnh đạo các cấp, cũng như cộng đồng doanh nghiệp.
Nhiều năm làm việc trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và có sự tương tác thường xuyên với ngành Hải quan, bà Nguyễn Ánh Tuyết là Trưởng Tiểu ban Hải quan của VAMA (Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam) nhận xét: Những bước chuyển mình của ngành Hải quan đã thể hiện tư duy quản lý hiện đại, bản lĩnh và tiệm cận với các chuẩn mực thương mại quốc tế. Sự biến chuyển này không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng, mà thể hiện ở ba định hướng chiến lược căn cơ.
Thứ nhất, bản lĩnh tự đổi mới và tinh gọn bộ máy. Việc quyết liệt cắt giảm đầu mối tổ chức, chuyển đổi mô hình từ 35 cục hải quan địa phương sang 20 chi cục hải quan khu vực là bước ngoặt thể chế mang tính lịch sử.
Đáng ghi nhận là quá trình tái cấu trúc diễn ra thuận lợi, hệ thống công nghệ thông tin vận hành liên tục, không gây ra bất kỳ đứt gãy nào trong dòng chảy logistics.
Điều này chứng minh cho năng lực quản trị công hiện đại và tinh thần sẵn sàng cải cách để hướng tới sự tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
![]() |
| Ngành Hải quan nỗ lực tạo thuận lợi thương mại, thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu. Ảnh: Cục Hải quan. |
Thứ hai, lấy tạo thuận lợi thương mại làm thước đo phục vụ. Tư duy quản lý của ngành Hải quan đã chuyển mạnh từ xem doanh nghiệp là “đối tượng quản lý” sang “đối tác đồng hành và phục vụ”. Việc tham mưu hoàn thiện hành lang pháp lý, mở rộng “làn xanh” cho các ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn và công nghệ cao, cùng việc cắt giảm hàng loạt thủ tục hành chính đã tháo gỡ điểm nghẽn chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Các cột mốc về kim ngạch xuất nhập khẩu, hay số thu ngân sách đạt kỷ lục là minh chứng thực tế nhất cho thấy, khi cơ quan quản lý tạo không gian thông thoáng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế sẽ được giải phóng mạnh mẽ.
Thứ ba, tiên phong số hóa và quản trị dựa trên dữ liệu. Việc đột phá công nghệ không dừng lại ở việc điện tử hóa tờ khai, mà đã tiến tới tích hợp Trí tuệ nhân tạo (AI) và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Đề án 06).
Việc khai thác dữ liệu định danh (VNeID) để xác thực người đại diện doanh nghiệp, đối soát rủi ro và đơn giản hóa thủ tục hành lý, quà biếu cá nhân đã từng bước thay thế tư duy “con dấu, giấy tờ” sang quản trị dựa trên “dữ liệu sạch”.
Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính minh bạch, vừa nâng cao năng lực chống buôn lậu và gian lận thương mại mà không làm chậm dòng hàng. “Có thể khẳng định, tiến trình cải cách và hiện đại hóa của Hải quan Việt Nam là một điểm sáng trong đổi mới quản trị nhà nước.
Sự chủ động này không chỉ khẳng định vai trò “người gác cửa” mẫn cán cho nền kinh tế, mà còn thực sự trở thành động lực thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu rộng, tự tin khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu”, bà Nguyễn Ánh Tuyết nhấn mạnh.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Hải Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đánh giá, nhiều năm qua, ngành Hải quan là một trong những lĩnh vực cải cách mạnh mẽ và thực chất nhất tại Việt Nam.
Từ triển khai thủ tục hải quan điện tử đến số hóa quy trình, áp dụng công nghệ, cho tới đơn giản hóa hồ sơ chứng từ, ngành Hải quan đã tạo ra những thay đổi rất lớn cho môi trường kinh doanh.
“Quan trọng hơn, quan hệ giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp hiện nay cũng đã thay đổi rất nhiều khi không còn đơn thuần là quan hệ quản lý, mà đang dần trở thành mối quan hệ đối tác đồng hành. Điều này thể hiện rất rõ qua sự phối hợp tích cực giữa ngành Hải quan với các hiệp hội doanh nghiệp, trong đó có EuroCham”, ông Nguyễn Hải Minh nói.
Với những kết quả tích cực trong thời gian qua, tin tưởng rằng, trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, Hải quan Việt Nam sẽ tiếp tục gặt hái được nhiều thành tựu trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa, nhất là thực hiện Hải quan số.